Chủ Nhật, 5 tháng 4, 2026

P.H.U.C.S.I.N.H. – 8 Bài Học Qua Sự Phục Sinh

 P.H.U.C.S.I.N.H. – 8 Bài Học Qua Sự Phục Sinh

  • P – Phó thác cho Chúa
    Dù hoàn cảnh tối tăm như chiều thứ Sáu, hãy tiếp tục tin cậy Chúa. Sự phục sinh nhắc rằng điều Chúa hứa sẽ không bao giờ thất bại.
    “Hãy phó thác đường lối mình cho Đức Giê-hô-va.” – Thi Thiên 37:5
    (và nhờ cậy nơi Ngài, thì Ngài sẽ làm thành việc ấy).
  • H – Hy vọng trong nghịch cảnh
    Mồ trống cho biết tuyệt vọng không phải là chương cuối cùng. Người tin Chúa luôn có hy vọng, ngay cả trong đau buồn hay tuổi bô lão.
    “Ngài đã khiến chúng ta lại sanh để có một sự trông cậy sống.” – 1 Phi-e-rơ 1:3
  • U – Ước muốn đời sống mới
    Sự phục sinh không chỉ là một sự kiện, nhưng là lời mời gọi sống một đời mới: bỏ tội lỗi, bước đi trong ánh sáng.
    “Nếu ai ở trong Đấng Christ, nấy là người dựng nên mới.” – 2 Cô-rinh-tô 5:17
  • C – Chiến thắng sự sợ hãi
    Các môn đồ từ chỗ run sợ đã trở nên mạnh mẽ vì biết Chúa sống. Chúng ta cũng có thể vượt qua lo âu, bệnh tật và tương lai.
    “Đừng sợ, vì Ta ở với
    ngươi.” – Ê-sai 41:10
  • S – Sống phục vụ và yêu thương
    Chúa sống lại không để chúng ta chỉ vui mừng cho riêng mình, nhưng để đem tình yêu và sự giúp đỡ đến cho người khác.
    “Hãy đi, khiến muôn dân trở nên môn đồ Ta.” –ý
    của Ma-thi-ơ 28:19
  • I – Im lặng nghe tiếng Chúa
    Maria Ma-đơ-len (Giăng 20:16) nhận ra Chúa khi Ngài gọi tên bà. Giữa bao ồn ào, hãy dành thì giờ yên lặng để nghe tiếng Chúa.
    “Chiên Ta nghe tiếng Ta.” – Giăng 10:27
  • N – Nhìn lên cõi đời đời
    Sự phục sinh bảo đảm rằng đời này không phải là tất cả. Một ngày kia, chúng ta sẽ gặp Chúa và sống với Ngài mãi mãi.
    “Ta là sự sống lại và sự sống.” – Giăng 11:25
  • H – Hát lên lời cảm tạ, vui mừng.
    Người tin Chúa không sống trong buồn nản, nhưng trong niềm vui và lòng biết ơn, vì Chúa đã sống lại thật rồi!
    “Đây là ngày Đức Giê-hô-va đã làm nên; chúng ta sẽ mừng rỡ và vui vẻ trong ngày ấy.” – Thi Thiên 118:24

Top of Form

 

Phục sinh mở cửa thiên ân,
Hy vọng nở giữa muôn phần gian nan.
Chúa nay sống lại vinh quang,
Niềm tin bừng sáng, thiên đàng gần hơn.
Bottom of Form

 

Thứ Bảy, 4 tháng 4, 2026

7 Bài Học về Phục Sinh

 7 Bài Học về Phục Sinh

Sự phục sinh của Jesus Christ không chỉ là một phép lạ, mà là trung tâm của đức tin Cơ Đốc. Nếu Chúa không sống lại, thì niềm tin trở nên vô ích; nhưng vì Ngài đã sống lại, nên mọi lời hứa của Đức Chúa Trời đều trở nên chắc chắn.

1.     Chứng minh Chúa Jesus thật là Con Đức Chúa Trời
Ngài đã nhiều lần báo trước rằng mình sẽ chết và sống lại ngày thứ ba. Khi điều đó xảy ra, lời Ngài được xác nhận là thật.
“Ngài đã được chứng tỏ là Con Đức Chúa Trời… bởi sự từ kẻ chết sống lại” (Rô-ma 1:4).

2.     Chứng minh tội lỗi đã được trả xong
Thập tự giá là nơi Chúa chịu hình phạt thay chúng ta; sự phục sinh là bằng chứng rằng Đức Chúa Trời đã chấp nhận sự hy sinh ấy.
Nếu Chúa vẫn còn trong mồ, tội lỗi chúng ta chưa được giải quyết. Nhưng vì Ngài sống lại, chúng ta được tha thứ.

3.     Đánh bại sự chết và Sa-tan
Sự chết không còn là điểm cuối cùng. Chúa Jesus đã chiến thắng mồ mả, nên người tin Ngài không còn phải sợ chết nữa.
“Ta là sự sống lại và sự sống; kẻ nào tin Ta thì sẽ sống, mặc dầu đã chết rồi” (Giăng 11:25).

4.     Ban cho chúng ta sự sống mới ngay hôm nay
Sự phục sinh không chỉ nói về tương lai sau khi chết, mà còn nói về đời sống mới bây giờ: một tấm lòng mới, một hướng đi mới, một sức mạnh mới để thắng tội lỗi.
Người tin Chúa có thể sống khác trước vì quyền năng phục sinh đang làm việc trong mình.

5.     Bảo đảm rằng chúng ta cũng sẽ sống lại
Vì Chúa đã sống lại, người thuộc về Ngài cũng sẽ được sống lại trong ngày sau rốt.
Ngài là “trái đầu mùa” – nghĩa là sự sống lại của Ngài là bảo đảm cho sự sống lại của những người tin Ngài.

6.     Cho chúng ta niềm hy vọng giữa đau khổ
Khi mất mát, bệnh tật, tuổi già, hay nghịch cảnh đến, sự phục sinh nhắc rằng bóng tối không phải là chương cuối. Sau Thứ Sáu chịu chết là sáng Chúa Nhật phục sinh.
Điều này đặc biệt an ủi những người lớn tuổi và những ai đang đi qua thử thách: Chúa vẫn đang sống và đang cầm tương lai trong tay Ngài
, một hứa hẹn sự sống đời đời.

7.     Thúc giục chúng ta sống cho Chúa
Nếu Chúa đã sống lại vì chúng ta, thì đời sống chúng ta không còn thuộc về chính mình nữa. Chúng ta được kêu gọi sống trung tín, yêu thương, và phục vụ Ngài cho đến cuối cùng.

Một câu ngắn dễ nhớ:

Chúa chết để cứu tôi,
Chúa sống lại để bảo đảm rằng tôi cũng sẽ sống với Ngài.

Chúa Phục Sinh

Chúa sống lại, mộ phần không giữ được,
Tội lỗi tiêu tan, hy vọng sáng ngời.
Đêm đen đã
dứt, bình minh bừng nở,
Ai tin nơi Con được sống đời đời.

 

CHAU FAMILY JOURNEY FROM VIETNAM TO USA

 CHAU FAMILY JOURNEY FROM VIETNAM TO USA

Hiep Chau was born on July 10, 1945, the son of Châu Văn Mừng (1912) and Trương Thị Keo (1914). Chung Chau was born on August 5, 1947, the daughter of Cao Văn Bảy (1907) and Trần Thị Nhẫn (1921).

In 1968, while I (Hiep) was in my third year of medical school, my friend Đỗ Văn Mẫn introduced me to his niece, Chung, who was studying at the University of Science. We came to know and love one another over the next three years. With our parents’ blessing, we became engaged in early 1971 and were married on September 20, 1971.

Our son, Châu Minh Triết, was born on March 10, 1973. At that time, I was interested in the Theosophical Society, which encouraged the search for wisdom in all religions. I therefore named my first child Minh Triết, meaning “wisdom.” My parents were overjoyed because he was their first grandson.

Our daughter, Châu Minh Ngọc, was born on April 20, 1974. Her name combines her mother’s middle name, Minh, and my own middle name, Ngọc. Minh Ngoc means “bright pearl.”

From the day we were married, our family lived with my parents at 183/6 Trần Trung Lập Street, District 6, Chợ Lớn.

In March 1972, I was drafted into the army and served as a medical lieutenant with the 49th Regiment, 25th Division, stationed at Trảng Lớn, Tây Ninh. During this time, Chung continued teaching at Đồng Tiến High School until shortly before Minh Triet was born.

When Minh Triết was eight months old, Chung brought him to join me in Trảng Lớn. Because of frequent shelling from Núi Bà Đen (Black Virgin Mountain), we lived in a bunker for protection.

In 1974, I was transferred to Củ Chi, where I worked as a physician in the infirmary of the 25th Division’s Military Medical Battalion. We were given a small house there, and by then Minh Ngoc had just been born. Because my parents wanted to help care for Minh Triet, he remained in Saigon with them. Though our family had grown to four, our happiness grew even more. Since Củ Chi was close to Saigon, I often brought Chung and baby Ngoc home on weekends to visit both sets of grandparents. Both Ông Bà Nội and Ông Bà Ngoại dearly loved Triet and Ngoc.

Later that year, I was promoted to Captain and assigned to the Thủ Đức Training Center. By early April 1975, I was no longer with the 25th Division. When I reported to my new assignment in mid-April, my superior simply told me to go home and wait for further orders. Vietnam was already descending into chaos.

On April 30, 1975, South Vietnam fell. The collapse of the Republic of Vietnam brought upheaval and sorrow to countless families. Many people tried to flee the country, but I did not. As the only son in my family, and as a doctor, I believed that perhaps the new government would still need me.

That hope did not last long.

One night in June 1975, two soldiers came to our home and arrested both me and my brother-in-law for “re-education.” At first I was sent to Suối Máu in Biên Hòa. About a year later, I was transferred to Trảng Lớn, Tây Ninh, and then to several other camps.

Life in the re-education camps was harsh beyond words. We endured endless political indoctrination, hard labor, hunger, and uncertainty. Many men became sick; some did not survive. The authorities repeatedly promised that if we “studied well,” we would soon be released to our families, yet they rarely kept their word.

During those dark years, the image of my wife and two young children became my source of strength. I told myself again and again: I must survive. I must live long enough to see my family again.

While I was imprisoned, Chung continued teaching at Phan Sào Nam High School and carried the burden of raising our children alone.

In November 1977, I was finally released and returned to my family. By that time, many doctors and other medical professionals had fled the country to escape the communist regime. Faced with a severe shortage of physicians, pharmacists, and nurses throughout Vietnam, the government began releasing medical professionals from the re-education camps.

After returning home, I worked at District 6 Hospital, not far from our house. Each morning I rode my bicycle to work and returned home in the evening. Yet even as a doctor, life under the new regime was painful and humiliating.

I still remember examining a patient one day when someone interrupted and shouted, “Doctor, come to the kitchen and collect your meat ration!” I did not want to leave my patient for a few ounces of meat, so I often replied, “Please give my portion to someone else this time.”

I was grateful simply to have work, because without it, we might have been forced to move to a “new economic zone” in the countryside. Even then, I knew that my children’s future would be limited. As the children of someone who had served the former government, they would likely be denied the opportunity to attend university.

In the evenings, after my hospital work, I quietly treated neighbors in a small private clinic.

Then, in the spring of 1979, everything changed.

A Chinese patient told me that her family was preparing to leave Vietnam by boat through a semi-official program. The government was encouraging ethnic Chinese families to leave, taking their homes and possessions in the process. She asked if we wanted to join them.

My mother believed that there was little future for us in Vietnam. She urged us to seize this chance. After many conversations and much prayerful thought, Chung and I decided that for the sake of our children, we had to leave.

Our parents gave us gold to pay for the journey: eight taels for each adult and one tael for each child. My mother traveled back and forth between Saigon and Bạc Liêu to arrange everything because I was still working and could not leave the city.

Near the end of June 1979, Chung and I, together with our two children and my sister, traveled secretly to Hộ Phòng, Bạc Liêu. My mother and Má Hai escorted us there. The day we left home, my father wept bitterly at the thought of losing his two grandchildren.

The boat, MH 5410, was only nineteen meters long, yet more than 230 people crowded aboard. We were packed together like sardines. Soon we entered rough seas. Huge waves and fierce winds battered the tiny boat. In the middle of the vast ocean, we felt utterly helpless, entrusting our lives to God.

After three or four days, our food was gone and our drinking water nearly exhausted. People became violently seasick. Everywhere there was vomiting, hunger, fear, and despair.

Then we encountered a Thai fishing boat. At first they gave us porridge and offered to tow us to land if we paid them in gold or American dollars. Everyone contributed what little they had.

But they were not rescuers. They were pirates.

They boarded our boat and robbed us of everything. Jewelry was ripped away. Hidden money was discovered and taken. Minh Ngoc still remembers losing the little gold necklace she wore, with its tiny goldfish pendant. The money sewn into Minh Triet’s shirt was stolen as well.

Afterward, the pirates towed us toward Malaysian waters, then cut the rope and abandoned us. The Malaysian navy refused to let us land and instead pushed our battered boat onward toward Indonesia.

Finally, after eight days at sea, Indonesia allowed MH 5410 to enter Kuku Island. We stepped onto land exhausted, hungry, and traumatized—but alive.

Life on Kuku Island was extremely difficult. There was little food, poor sanitation, swarms of flies and mosquitoes, and widespread sickness. Many refugees died there.

Because I had served as an officer in the Republic of Vietnam, our family was eventually accepted to immigrate to the United States under Category 3.

While on Kuku Island and later at Galang refugee camp, I volunteered as a doctor, caring for fellow refugees while we waited for permission to leave.

In July 1980, after a brief stay in Singapore, we finally boarded a plane to America and arrived in Falls Church, Virginia.

For the first month, we stayed with relatives. Later we moved into a small housing-project townhouse on Monticello Drive (later, Linda Lane) in Falls Church, VA. 

While I studied for the FLEX medical examination, Chung worked many different jobs to support our family. We also received government assistance for eighteen months. Our first car was a brown Ford Pinto, purchased brand new for about four thousand dollars. Minh Triet and Minh Ngoc attended Graham Elementary School near our housing-project townhouse.

In 1985, I passed my medical licensing exam and accepted a job in Hollywood, Florida. Two years later, in 1987, we moved again—this time to Jacksonville, where our family would eventually put down roots.

Over the years, we lived at several homes in Jacksonville, but each move marked a new chapter of blessing and stability.

Minh Ngoc married Dien Hoang in 2000. Minh Triet married Quoc Huong in 2003. Ngoc and Dien have three sons; Triet and Huong have two. Though Chung always hoped for at least one granddaughter, our five grandsons have become the precious jewels of our family.

A New Beginning in Faith

In 1982, while waiting for the results of the FLEX examination, I was looking for temporary work. One day, while driving past Fairfax Circle Baptist Church in Virginia, I noticed a sign that read: “Vacation Bible School.”

I had read Buddhist writings and the I Ching, but I knew very little about the Bible. Apart from a few verses I had encountered in books by Hoàng Xuân Việt, I realized how ignorant I was of the Scriptures. Since so much of Western literature and culture is shaped by the Bible, I felt that not knowing it was a serious deficiency.

So I stopped the car and walked into the church office.

Pastor Jennings greeted me warmly. When I told him that I wanted to attend Bible class, he laughed kindly and explained that Vacation Bible School was normally for children. He said he had never before met an adult who wanted to study the Bible in that way.

But seeing my interest, he promised to find someone who would teach me.

A few days later, he called back and told me that two members of the church—Mr. Bill Pettus and Mrs. Lorraine Perry—had volunteered to teach me every Sunday morning.

At first, Chung objected when I invited her to come with me. “Don’t you have something better to do?” she asked.

I smiled and answered, “We are only going to study English—through the Bible.”

That reasoning convinced her. So together we went, bringing Minh Triet, who was nine, and Minh Ngoc, who was eight.

The children joined the children’s classes, while Chung and I studied with our two kind teachers.

As we became part of Fairfax Circle Baptist Church, we saw something beautiful. The Christians there loved one another like family. They cared for each other. Their children were respectful and free from the destructive habits we feared in America.

As immigrant parents, we worried that our children might be swept away by the temptations of a new culture. Instead, we found in the church a place where faith, good character, hard work, and love were nurtured together.

In 1983, Chung and I accepted Jesus Christ as our Savior and were baptized. Minh Triet was baptized in 1985, and Minh Ngoc in 1986.

When we later moved to Florida, we attended South Florida Alliance Church. After settling in Jacksonville, we helped organize a home Bible study group that eventually became the Vietnamese Christian Church of Jacksonville.

For more than forty years, we have walked with the Lord. Through that journey, God has corrected us, comforted us, and changed us.

I have become less impatient and more gentle; less judgmental and more understanding; less quick-tempered and more at peace. I have learned not to cling to temporary things, but to treasure what is eternal.

Over the years, I invested in many things. But leading my family to Jesus Christ was, without question, the greatest investment of my life.

Nothing is better than living in love, faith, and hope.

Today, my wife, my children, and my grandchildren all walk with God. The third generation—our “olive shoots”—is growing and flourishing in the house of the Lord.



Bottom of Form

 

Thứ Năm, 2 tháng 4, 2026

Tuần lễ thánh theo thứ tự từng ngày

 Tuần lễ thánh (Holy Week) theo thứ tự từng ngày:

  1. Palm Sunday – Chúa Jesus vào thành Jerusalem, dân chúng trải lá chà là đón Ngài (Ma-thi-ơ 21).
  2. Holy Monday – Thường gắn với việc Chúa dẹp những người buôn bán khỏi đền thờ và quở cây vả không trái.
  3. Holy Tuesday – Chúa giảng dạy trong đền thờ, nói nhiều ẩn dụ và lời tiên tri về ngày sau rốt.
  4. Spy Wednesday – Giu-đa âm mưu phản Chúa, nhận ba mươi đồng bạc.
  5. Maundy Thursday – Bữa Tiệc Ly, Chúa rửa chân môn đồ, lập Tiệc Thánh, rồi cầu nguyện trong vườn Ghết-sê-ma-nê, bị bắt dẫn đến thầy tế lễ thượng phẩm.
  6. Good Friday – Chúa bị đóng đinh và chịu chết trên thập tự giá.
  7. Holy Saturday – Thân thể Chúa ở trong mộ; các môn đồ chờ đợi trong đau buồn.
  8. Easter Sunday – Chúa Jesus sống lại vinh hiển từ kẻ chết.

Theo năm 2026, các ngày là:

  • Palm Sunday: 29/3/2026
  • Holy Monday: 30/3/2026
  • Holy Tuesday: 31/3/2026
  • Spy Wednesday: 1/4/2026
  • Maundy Thursday: 2/4/2026
  • Good Friday: 3/4/2026
  • Holy Saturday: 4/4/2026
  • Easter Sunday: 5/4/2026

Thứ Hai, 30 tháng 3, 2026

DÊ TẾ THẦN (SCAPEGOAT)

 DÊ TẾ THẦN

SCAPEGOAT – DÊ TẾ THẦN HAY OAN DƯƠNG?

Suy niệm nhân mùa Thương Khó và Phục Sinh

Kinh Thánh nền tảng

  • Lê-vi Ký 16:8–10
  • Ê-sai 53:4
  • Hê-bơ-rơ 9:28
  • Thi Thiên 103:12

Mở đầu

Trong ngôn ngữ hiện đại, chữ “scapegoat” thường được dịch là “kẻ thế tội” 替罪羊, “oan dương” 冤羊, hay “người bị đổ lỗi”. Nhưng nguồn gốc của chữ ấy đến từ nghi lễ rất đặc biệt trong Cựu Ước, được ghi trong Lê-vi Ký 16, vào Ngày Chuộc Tội (Yom Kippur), tức là vào ngày 10 tháng Tishri.

Mỗi năm một lần, thầy tế lễ thượng phẩm đem hai con dê đến trước mặt Đức Chúa Trời. Một con bị giết làm của lễ chuộc tội (tế thần); con còn lại được đặt tay lên đầu, mang lấy mọi tội lỗi của dân sự, rồi bị đuổi vào đồng vắng. Con dê ấy được gọi là “dê gánh tội” – scapegoat.

Hình ảnh ấy không chỉ là một nghi thức Do Thái cổ xưa. Đó là bức tranh tiên tri về Đức Chúa Giê-xu Christ trong cuộc thương khó và phục sinh. Ngài là Đấng gánh tội lỗi chúng ta, mang chúng đi thật xa, để chúng ta được tha thứ và phục hòa với Đức Chúa Trời.


I. Hai con dê trong Lê-vi Ký 16

Lê-vi Ký 16:8–10 chép:

“A-rôn bắt thăm cho hai con dê đực: một thăm về Đức Giê-hô-va, và một thăm về A-xa-sên. A-rôn sẽ dâng con dê trúng thăm về Đức Giê-hô-va làm của lễ chuộc tội; còn con dê trúng thăm về A-xa-sên sẽ để sống trước mặt Đức Giê-hô-va, để làm lễ chuộc tội và thả nó vào đồng vắng về A-xa-sên.”

Hai con dê tượng trưng cho hai khía cạnh của sự cứu chuộc:

Con dê thứ nhất (đê tế thần)

Con dê thứ hai (dê gánh tội)

Bị giết

Được để sống

Máu đổ ra để chuộc tội

Mang tội lỗi đi xa

Nói về sự chết của Đấng Christ

Nói về việc Chúa cất tội lỗi khỏi chúng ta

Sự công bình của Đức Chúa Trời được thỏa mãn

Tội lỗi bị đem đi, không còn nhớ đến nữa

Con dê đầu tiên dạy rằng tội lỗi phải bị xét đoán. Không có sự tha thứ nếu không có huyết đổ ra.

Con dê thứ hai dạy rằng khi tội đã được chuộc, Đức Chúa Trời không giữ nó lại. Tội lỗi bị mang đi khỏi chúng ta.

Như vậy, Chúa Giê-xu vừa là của lễ bị giết, vừa là “scapegoat” mang lấy tội lỗi nhân loại.

II. “Người đã mang sự đau ốm của chúng ta” – Ê-sai 53:4

Ê-sai 53:4 viết:

“Thật người đã mang sự đau ốm của chúng ta, đã gánh sự buồn bực của chúng ta…”

Từ “mang” và “gánh” ở đây chính là ngôn ngữ của con dê gánh tội. Thầy tế lễ đặt tay trên đầu con dê, xưng mọi tội lỗi mình và của dân sự, rồi con dê mang hết những điều ấy đi vào nơi hoang vắng.

Đức Chúa Giê-xu cũng đã mang lấy:

  • Tội lỗi chúng ta
  • Sự xấu hổ của chúng ta
  • Sự đau khổ của chúng ta
  • Hình phạt đáng lẽ thuộc về chúng ta

Ngài trở thành “oan dương” theo nghĩa sâu xa nhất: Đấng vô tội chịu điều thuộc về người có tội.

Người đời thường có thói quen tìm một “scapegoat” để đổ lỗi: một người trong gia đình, một nhóm trong xã hội, hay một người yếu đuối hơn. Nhưng Đức Chúa Giê-xu không phải là nạn nhân bất lực của sự bất công. Ngài tự nguyện gánh lấy tội lỗi chúng ta.

Ngài không chỉ bị người ta đổ lỗi; Ngài chọn mang lấy lỗi của chúng ta.

Đó là tình yêu của thập tự giá.


III. Hê-bơ-rơ 9:28 – Chúa chịu dâng một lần đủ cả

Hê-bơ-rơ 9:28 chép:

“Cũng vậy, Đấng Christ đã chịu dâng chính mình Ngài chỉ một lần để cất tội lỗi của nhiều người…”

Trong Cựu Ước, nghi lễ dê tế thần phải lập lại mỗi năm (YOM KIPPUR). Mỗi năm dân sự lại phạm tội, mỗi năm lại cần một con dê khác.

Nhưng Chúa Giê-xu không phải là một hình bóng tạm thời. Ngài là thực thể cuối cùng.

  • Không cần của lễ khác nữa
  • Không cần một scapegoat khác nữa
  • Không cần lặp lại lễ chuộc tội mỗi năm

Vì trên thập tự giá, Chúa đã mang mọi tội lỗi của nhân loại một lần đủ cả.

Thập tự giá là nơi:

1.     Công lý của Đức Chúa Trời được thỏa mãn

2.     Tội lỗi bị mang đi

3.     Người có tội được tha thứ

4.     Người bị xa cách được trở về

Sự phục sinh là bằng chứng rằng của lễ ấy đã được Đức Chúa Trời chấp nhận. Nếu Chúa chỉ chết mà không sống lại, chúng ta vẫn còn ở trong tội lỗi. Nhưng vì Ngài đã sống lại, nên chúng ta biết rằng “con dê thứ hai” đã mang tội lỗi đi thật sự, và không còn đem trở lại nữa.


IV. “Xa như đông cách xa tây” – Thi Thiên 103:12

Thi Thiên 103:12 nói:

“Ngài đã đem sự vi phạm chúng tôi khỏi xa chúng tôi, khác nào phương đông xa cách phương tây.”

Đây là câu Kinh Thánh đẹp nhất để giải thích ý nghĩa của scapegoat.

Con dê mang tội lỗi đi vào đồng vắng, không bao giờ quay trở lại. Tương tự như vậy, khi Chúa tha thứ, Ngài không giữ lại hồ sơ tội lỗi của chúng ta.

Phương bắc và phương nam cuối cùng có thể gặp nhau ở hai cực (vì cùng nằm trên một trục). Nhưng phương đông và phương tây thì không bao giờ gặp nhau. Đức Chúa Trời muốn nói rằng:

Tội lỗi của người tin Chúa đã được đem đi xa vô hạn.

Nhiều người được Chúa tha thứ nhưng vẫn tự kết án mình:

  • “Tôi không xứng đáng.”
  • “Tôi đã sai quá nhiều.”
  • “Chúa chắc còn nhớ chuyện cũ của tôi.”

Nhưng scapegoat dạy chúng ta rằng:

Điều Chúa đã mang đi, chúng ta không nên kéo trở lại.

Nếu Đức Chúa Trời đã ném tội lỗi chúng ta xa như đông cách xa tây, thì chúng ta đừng sống như người vẫn còn bị xiềng xích bởi quá khứ.


V. Từ nghi lễ đến thập tự giá

Cựu Ước

Ứng nghiệm nơi Chúa Giê-xu

Hai con dê trong ngày chuộc tội

Chúa vừa là của lễ, vừa là Đấng mang tội

Thầy tế lễ đặt tay trên đầu con dê

Tội lỗi nhân loại đặt trên Chúa

Con dê đi vào đồng vắng

Chúa mang tội lỗi đi khỏi chúng ta

Nghi lễ lặp lại hằng năm

Chúa chịu chết một lần đủ cả

Dân sự được sạch tạm thời

Người tin được tha thứ trọn vẹn

Thập tự giá không chỉ là nơi Chúa chịu đau đớn. Đó là nơi Chúa trở thành scapegoat cho chúng ta.

  • Chúng ta đáng bị bỏ rơi; Ngài bị bỏ rơi.
  • Chúng ta đáng mang tội; Ngài mang tội.
  • Chúng ta đáng chết; Ngài chết thay.
  • Chúng ta đáng ở xa Đức Chúa Trời; Ngài mở đường cho chúng ta trở lại.

VI. Bài học cho mùa Thương Khó và Phục Sinh

1. Đừng tiếp tục mang điều Chúa đã mang thay

Có nhiều tín hữu vẫn sống với mặc cảm, hổ thẹn và tự kết án. Nhưng Chúa đã mang điều ấy rồi.

Nếu Ngài là scapegoat của bạn, bạn không cần tiếp tục mang lấy gánh nặng đó nữa.

2. Đừng biến người khác thành “oan dương”

Con người thường đổ lỗi cho người khác:

  • A-đam đổ lỗi cho Ê-va
  • Ê-va đổ lỗi cho con rắn
  • Dân chúng đổ lỗi cho người yếu thế

Nhưng thập tự giá dạy chúng ta không đổ lỗi, mà nhận trách nhiệm và sống trong ân điển.

3. Hãy sống trong niềm vui của sự tha thứ

Mùa Phục Sinh không chỉ là kỷ niệm Chúa sống lại. Đó là sự công bố rằng:

Tội lỗi đã bị đem đi. Án phạt đã hết. Con đường trở về với Đức Chúa Trời đã mở ra.


Kết luận

Scapegoat không chỉ là một con dê trong Lê-vi Ký. Đó là hình bóng tuyệt đẹp về Chúa Giê-xu Christ.

Trong ngày Thương Khó, Ngài mang lấy tội lỗi chúng ta. Trong ngày Phục Sinh, Ngài chứng minh rằng tội lỗi ấy đã bị đánh bại.

Con dê gánh tội đi vào đồng vắng mang theo tội lỗi của dân sự. Chúa Giê-xu đi lên đồi Gô-gô-tha mang theo tội lỗi của cả thế gian.

Nhưng khác với con dê trong Cựu Ước, Chúa không ở lại trong sự chết. Ngài sống lại.

Vì thế, người tin Chúa có thể nói:

“Tội lỗi tôi đã được đem đi xa như đông cách xa tây.”

“Ngài đã mang lấy sự đau ốm tôi, gánh sự buồn bực tôi.”

“Đấng Christ đã chịu dâng chính mình Ngài chỉ một lần để cất tội lỗi của nhiều người.”

Và đó chính là ý nghĩa sâu xa nhất của Thương Khó và Phục Sinh.

Phụ chú:

“Oan dương” viết theo chữ Hán là:  冤羊

  • = oan, bị hàm oan, chịu tội thay
  • = dê, chiên

Tuy nhiên, trong văn cảnh Kinh Thánh và từ “scapegoat”, chữ Hán–Việt thường dùng chính xác hơn là:

替罪羊 (thế tội dương)

  • = thay
  • = tội
  • = dê/chiên

Nghĩa là: “con dê chịu tội thay”, hay “scapegoat”.

Xin có 2 câu thơ về Sinh và Tử của Chúa Jesus yêu quý của chúng ta:

Tuân Phụ lệnh, CON TRỜI giáng thế,
Thương nhơn loài, CỨU CHÚA hy sinh.

            CHAUSA.

Thứ Bảy, 28 tháng 3, 2026

TRI ÂN NGƯỜI HẦU VIỆC CHÚA

 “Tri Ân Người Hầu Việc Chúa”, một chủ đề sâu sắc, đầy ơn và phù hợp cho Chúa Nhật Tri Ân Mục Sư / Người Hầu Việc Chúa.

Dưới đây là bài giảng mẫu trọn vẹn, dựa trên Ga-la-ti 6:6; I Tê-sa-lô-ni-ca 5:12–13; I Ti-mô-thê 5:17, gồm:

  • Đề tài

  • Câu gốc

  • Dàn bài 3 phần

  • Suy gẫm – Ứng dụng

  • Lời kêu gọi và cầu nguyện kết thúc

“HÃY TRI ÂN NGƯỜI HẦU VIỆC CHÚA”

(Grateful for Those Who Serve the Lord)


📖 CÂU GỐC KINH THÁNH

  1. Ga-la-ti 6:6

“Người được dạy đạo, hãy lấy mọi của mình mà thông công với kẻ dạy mình.”

  1. I Tê-sa-lô-ni-ca 5:12–13

“Chúng tôi khuyên anh em hãy biết ơn những người chịu khó trong anh em, là kẻ cai trị anh em trong Chúa, và khuyên bảo anh em. Hãy lấy lòng yêu thương trọng thể mà kính trọng họ, vì công việc họ làm.”

  1. I Ti-mô-thê 5:17

“Các trưởng lão khéo cai trị thì đáng được tôn trọng cách xứng đáng, nhất là những người khó nhọc trong việc giảng dạy và khuyên bảo.”


🕊️ DÀN BÀI GIẢNG

I. TRI ÂN LÀ THÁI ĐỘ ĐÚNG ĐẮN CỦA NGƯỜI ĐƯỢC CHÚA CỨU

  • Ga-la-ti 6:6 dạy rằng người được dạy đạo phải chia sẻ những gì mình có cho người dạy mình.

  • Tri ân người hầu việc Chúa là biểu hiện của tấm lòng biết ơn Chúa, vì chính Chúa đã dùng họ để chăm sóc linh hồn ta.

💬 Bài học:

Khi ta biết ơn Mục sư, Truyền đạo, Giáo viên Thánh Kinh, ta thật ra đang bày tỏ lòng biết ơn với Đức Chúa Trời — Đấng đã sai họ đến.

📖 1 Cô-rinh-tô 4:1:

“Vậy, người ta phải coi chúng tôi như là kẻ giúp việc của Đấng Christ và kẻ quản lý các sự mầu nhiệm của Đức Chúa Trời.”


II. TRI ÂN BẰNG HÀNH ĐỘNG CỤ THỂ, KHÔNG CHỈ BẰNG LỜI NÓI

  • I Tê-sa-lô-ni-ca 5:12–13 nhắc chúng ta:

    “Hãy lấy lòng yêu thương trọng thể mà kính trọng họ.”

Điều này không chỉ nói đến thái độ, mà còn là hành động yêu thương cụ thể:

  • Cầu nguyện cho người hầu việc Chúa.

  • Nâng đỡ tinh thần, vật chất.

  • Bày tỏ sự khích lệ, chia sẻ, cảm thông.

💬 Bài học:

Tri ân thật là khi ta biết chia sẻ gánh nặng, chứ không chỉ chờ được phục vụ.

🌿 Ứng dụng:
Hãy hỏi Chúa: “Con có thể làm gì để khích lệ người hầu việc Ngài hôm nay?”


III. TRI ÂN VÌ CÔNG KHÓ KHÔNG THẤY CỦA NGƯỜI HẦU VIỆC CHÚA

  • I Ti-mô-thê 5:17:

    “Các trưởng lão khéo cai trị thì đáng được tôn trọng cách xứng đáng...”

Đây là sự công nhận công khó thuộc linh – không chỉ công việc giảng dạy, mà còn:

  • Cầu thay không ngừng,

  • Khuyên bảo, an ủi, hướng dẫn,

  • Gánh vác gánh nặng thuộc linh của hội thánh.

💬 Sự thật:

Nhiều người hầu việc Chúa chịu đựng cô đơn, áp lực, và hy sinh thầm lặng — chỉ vì lòng yêu mến linh hồn.

🙏 Chúa nhìn thấy điều đó.
Ngài sẽ ban thưởng cho họ — nhưng Hội Thánh cũng nên bày tỏ lòng biết ơn ngay hôm nay.


💖 SUY GẪM & ỨNG DỤNG

Điều học đượcỨng dụng
1. Người hầu việc Chúa là khí cụ của NgàiHãy tôn trọng và biết ơn họ như đang tôn trọng chính Chúa
2. Biết ơn cần đi kèm hành độngThăm hỏi, khích lệ, cầu nguyện, chia sẻ vật chất
3. Người hầu việc Chúa cần sự nâng đỡ thuộc linhĐừng chỉ đòi hỏi — hãy cùng nâng đỡ họ trong tình yêu thương

🙏 CẦU NGUYỆN KẾT THÚC

Lạy Chúa,
Con tạ ơn Ngài vì đã ban cho Hội Thánh những người hầu việc trung tín.
Xin cho con có tấm lòng biết ơn, tôn trọng, và nâng đỡ họ trong tình yêu thương.
Xin Chúa thêm sức, thêm ơn cho họ trong công tác giảng dạy, khuyên bảo và chăm sóc đàn chiên.
Nguyện con không chỉ tri ân bằng lời, mà bằng việc làm, để đem lại niềm vui cho người hầu việc Ngài.
Con cầu nguyện trong danh Đức Chúa Giê-xu Christ.
Amen.


🌾 CÂU GỐC GHI NHỚ

“Hãy lấy lòng yêu thương trọng thể mà kính trọng họ, vì công việc họ làm.”
(I Tê-sa-lô-ni-ca 5:13)

Vua Ba-tư (old Persian kings)

 The “old Persian kings” usually refers to the rulers of the Achaemenid Empire, the great empire that appears in the Bible during the time of Ezra, Nehemiah, Esther, and Daniel.

  1. Cyrus the Great (559–530 BC)
  • Conquered Babylon
  • Allowed the Jews to return to Jerusalem and rebuild the Temple (Ezra 1)
  1. Cambyses II (530–522 BC)
  • Son of Cyrus
  • Conquered Egypt
  1. Bardiya (522 BC)
  • Ruled only briefly
  1. Darius I (522–486 BC)
  • Finished organizing the empire
  • Supported rebuilding of the Temple in Jerusalem (Ezra 6)
  1. Xerxes I (486–465 BC)
  • Usually identified as King Ahasuerus in Esther
  • Husband of Esther
  1. Artaxerxes I (465–424 BC)
  • Sent Ezra and later Nehemiah back to Jerusalem (Ezra 7; Nehemiah 2)
  1. Xerxes II (424 BC)
  2. Sogdianus (424–423 BC)
  3. Darius II (423–404 BC)
  4. Artaxerxes II (404–358 BC)
  5. Artaxerxes III (358–338 BC)
  6. Artaxerxes IV (338–336 BC)
  7. Darius III (336–330 BC)
  • Defeated by Alexander the Great, ending the Persian Empire

A simple Bible timeline is:

  • Cyrus → Ezra 1
  • Darius I → Ezra 6
  • Xerxes I (Ahasuerus) → Esther
  • Artaxerxes I → Ezra 7 and Nehemiah 2