Thứ Ba, 7 tháng 4, 2026

Chúa Giê-su và 3 chức vụ

 Chúa Giê-su và 3 chức vụ:

Trong Cựu Ước, ba chức vụ lớn nhất dành cho dân Chúa là:

1.     Tiên tri – đại diện Đức Chúa Trời nói với loài người.

2.     Thầy tế lễ thượng phẩm – đại diện loài người đến với Đức Chúa Trời.

3.     Vua – cai trị và dẫn dắt dân Chúa.

Jesus Christ giữ cả ba chức vụ ấy vì Ngài là Đấng Mê-si-a trọn vẹn, hoàn thành mọi điều mà Cựu Ước đã báo trước.

1. Chúa Giê-su là TIÊN TRI

Tiên tri đem lời Đức Chúa Trời đến cho dân sự.

  • Moses từng nói rằng Đức Chúa Trời sẽ dấy lên “một Đấng tiên tri như ta” (Phục truyền 18:15).
  • Chúa Giê-su phán dạy chân lý, bày tỏ ý muốn Đức Chúa Trời, cảnh cáo tội lỗi, và tiên báo tương lai.
  • Ngài không chỉ nói lời Đức Chúa Trời; Ngài chính là “Ngôi Lời” của Đức Chúa Trời (Giăng 1:1).

Ví dụ:

  • Ngài dạy về Nước Trời.
  • Ngài báo trước sự chết và sự phục sinh của mình.
  • Ngài báo trước sự phá hủy của Giê-ru-sa-lem.

Vì vậy, Chúa Giê-su là Tiên Tri tối hậu – Đấng bày tỏ Đức Chúa Trời cách đầy đủ nhất.

2. Chúa Giê-su là THẦY TẾ LỄ CẢ (THƯỢNG PHẨM)

Thầy tế lễ đem con người đến gần Đức Chúa Trời bằng sự cầu thay và dâng của lễ.

Trong Cựu Ước:

  • Thầy tế lễ dâng sinh tế cho tội lỗi.
  • Mỗi năm, thầy tế lễ cả vào nơi chí thánh để cầu thay cho dân (YOM KIPPUR, 10 TISHRI)

Nhưng các thầy tế lễ chỉ là hình bóng. Chúa Giê-su là Thầy Tế Lễ Cả thật:

  • Ngài cầu thay cho chúng ta.
  • Ngài không dâng một con chiên hay bò; Ngài dâng chính mình làm sinh tế.
  • Ngài chết một lần đủ cả cho tội lỗi nhân loại.

Sách Hê-bơ-rơ nói rằng Ngài là Thầy Tế Lễ Cả đời đời “theo ban Melchizedek”.

Như vậy:

  • Thầy tế lễ thường: dâng của lễ cho dân.
  • Chúa Giê-su: vừa là Thầy Tế Lễ, vừa là của lễ.

3. Chúa Giê-su là VUA

Vua cai trị dân Chúa.

Trong Cựu Ước, Đức Chúa Trời hứa rằng một hậu tự của David sẽ ngồi trên ngôi đời đời (2 Sa-mu-ên 7:12–13).

Chúa Giê-su là “Con vua Đa-vít”, nên Ngài là Vua được hứa ban.

  • Ngài cai trị Nước Đức Chúa Trời.
  • Ngài chiến thắng tội lỗi, sự chết và Sa-tan.
  • Một ngày kia Ngài sẽ trở lại làm Vua trên cả đất.

Khi Chúa vào thành Giê-ru-sa-lem, dân chúng tung hô Ngài là Vua. Trên thập tự giá, bảng đề cũng ghi: “Vua dân Do Thái”.

Tại sao Chúa phải giữ cả ba chức vụ?

Vì loài người có ba nhu cầu lớn:

Nhu cầu của con người

Chức vụ của Chúa Giê-su

Cần biết chân lý

Tiên Tri

Cần được tha tội và đến gần ĐCT

Thầy Tế Lễ Cả

Cần được dẫn dắt và cứu khỏi kẻ thù

Vua

 

Nếu chỉ là Tiên Tri, Ngài chỉ dạy đường mà không cứu được.
Nếu chỉ là Thầy Tế Lễ, Ngài tha tội nhưng không cai trị đời sống chúng ta.
Nếu chỉ là Vua, Ngài cai trị nhưng chúng ta vẫn chưa biết Đức Chúa Trời và chưa được tha tội.

Chỉ nơi Chúa Giê-su, cả ba đều trọn vẹn:

  • Ngài dạy chúng ta chân lý.
  • Ngài cứu chuộc chúng ta.
  • Ngài cai trị chúng ta.

 Vậy, Chúa Giê-su là:

  • Tiên Tri – đem lời Đức Chúa Trời xuống cho người.
  • Thầy Tế Lễ – đem người đến với Đức Chúa Trời.
  • Vua – cai trị và bảo vệ dân Đức Chúa Trời.
Đức Chúa Giê-su là một ngôi vị trong Ba Ngôi ĐCT:
Matthew 28:19 cho chúng ta thấy rõ sự hiện diện của Ba Ngôi.

Top of Form

 

Bottom of Form

 

Thứ Hai, 6 tháng 4, 2026

Hậu Phục sinh TIMELINE

 Sau khi Chúa Jesus sống lại, Kinh Thánh ghi lại một chuỗi biến cố kéo dài 40 ngày, từ sáng Chúa nhật Phục sinh cho đến khi Ngài thăng thiên.

Ngày 1: Sáng sớm Chúa nhật Phục sinh
  1. Các phụ nữ đến mộ và thấy mộ trống
    – Ma-ri Ma-đơ-len, Ma-ri mẹ Gia-cơ, Sa-lô-mê, và những người khác đến mộ.
    – Thiên sứ báo: “Ngài không ở đây đâu; Ngài đã sống lại.”
    (Ma-thi-ơ 28:1–8; Mác 16:1–8; Lu-ca 24:1–8; Giăng 20:1)
  2. Chúa hiện ra với Ma-ri Ma-đơ-len
    – Bà là người đầu tiên gặp Chúa phục sinh.
    – Chúa gọi tên bà: “Ma-ri!”
    (Giăng 20:11–18)
  3. Chúa hiện ra với các phụ nữ khác trên đường trở về
    (Ma-thi-ơ 28:9–10)
  4. Phi-e-rơ chạy đến mộ
    – Ông thấy khăn liệm còn đó nhưng chưa hiểu hết.
    (Lu-ca 24:12; Giăng 20:3–10)
  5. Chúa hiện ra riêng với Phi-e-rơ
    – Kinh Thánh chỉ nhắc ngắn gọn, nhưng đây dường như là lần hiện ra riêng để phục hồi ông.
    (Lu-ca 24:34; I Cô-rinh-tô 15:5)

Chiều ngày Phục sinh

  1. Chúa hiện ra với hai môn đồ trên đường Em-ma-út
    – Đây xảy ra chiều Chúa nhật, sau khi các phụ nữ đã báo tin và trước khi Chúa hiện ra với nhóm môn đồ.
    – Hai người nhận ra Chúa khi Ngài bẻ bánh.
    (Lu-ca 24:13–35)
  2. Chúa hiện ra với các môn đồ trong phòng đóng kín
    – Tối Chúa nhật.
    – Chúa phán: “Bình an cho các ngươi.”
    – Lúc đó Thô-ma không có mặt.
    (Lu-ca 24:36–49; Giăng 20:19–23)

Một tuần sau (8 ngày sau)

  1. Chúa hiện ra lần nữa với các môn đồ, lần này có Thô-ma
    – Thô-ma được chạm vào dấu đinh và tin.
    – Ông nói: “Lạy Chúa tôi và Đức Chúa Trời tôi!”
    (Giăng 20:26–29)

Trong những tuần kế tiếp tại Ga-li-lê

  1. Chúa hiện ra với 7 môn đồ bên biển Ga-li-lê
    – Chúa làm phép lạ bắt nhiều cá.
    – Chúa phục hồi Phi-e-rơ: “Hãy chăn chiên Ta.”
    (Giăng 21)
  2. Chúa hiện ra với hơn 500 anh em cùng một lúc
    (I Cô-rinh-tô 15:6)
  3. Chúa hiện ra với Gia-cơ
    – Có lẽ là Gia-cơ em của Chúa, sau này trở thành lãnh đạo Hội Thánh tại Jerusalem.
    (I Cô-rinh-tô 15:7)
  4. Chúa ban Đại Mạng Lệnh
    – “Hãy đi dạy dỗ muôn dân…”
    – Có lẽ trên một ngọn núi tại Ga-li-lê.
    (Ma-thi-ơ 28:16–20)

Ngày thứ 40: Thăng thiên

  1. Chúa dẫn các môn đồ đến gần Bê-tha-ni, trên núi Ô-li-ve
    – Sau 40 ngày hiện ra, Chúa được cất lên trời trước mắt họ.
    – Hai thiên sứ báo rằng Ngài sẽ trở lại như cách họ đã thấy Ngài đi lên.
    (Lu-ca 24:50–53; Công-vụ 1:3–11)
  2. Các môn đồ trở về Jerusalem chờ Đức Thánh Linh
    – Họ cầu nguyện trong 10 ngày.
    – Sau đó đến lễ Ngũ Tuần, Đức Thánh Linh giáng xuống.
    (Công-vụ 1–2)

Timeline ngắn gọn

  • Ngày 1: Mộ trống → Ma-ri gặp Chúa → Em-ma-út → hiện ra với các môn đồ
  • Ngày 8: Hiện ra với Thô-ma
  • Những tuần sau: Ga-li-lê, phục hồi Phi-e-rơ, Đại Mạng Lệnh
  • Ngày 40: Thăng thiên
  • Ngày 50: Đức Thánh Linh giáng lâm tại lễ Ngũ Tuần

GIÊ-HÔ-VA Acronym

 GIÊ HÔ VA, Acronym?

G – Giữ lời hứa luôn bền vững
I – Ở cùng dân Ngài trong mọi hoàn cảnh
Ê – Êm dịu nâng đỡ những lòng đau thương
H – Hằng hữu, không bao giờ thay đổi
Ô – Ôm ấp, chở che con cái Ngài
V – Vững vàng giải cứu và dẫn dắt
A – Amen, đáng tin cậy đời đời

Chủ Nhật, 5 tháng 4, 2026

P.H.U.C.S.I.N.H. – 8 Bài Học Qua Sự Phục Sinh

 P.H.U.C.S.I.N.H. – 8 Bài Học Qua Sự Phục Sinh

  • P – Phó thác cho Chúa
    Dù hoàn cảnh tối tăm như chiều thứ Sáu, hãy tiếp tục tin cậy Chúa. Sự phục sinh nhắc rằng điều Chúa hứa sẽ không bao giờ thất bại.
    “Hãy phó thác đường lối mình cho Đức Giê-hô-va.” – Thi Thiên 37:5
    (và nhờ cậy nơi Ngài, thì Ngài sẽ làm thành việc ấy).
  • H – Hy vọng trong nghịch cảnh
    Mồ trống cho biết tuyệt vọng không phải là chương cuối cùng. Người tin Chúa luôn có hy vọng, ngay cả trong đau buồn hay tuổi bô lão.
    “Ngài đã khiến chúng ta lại sanh để có một sự trông cậy sống.” – 1 Phi-e-rơ 1:3
  • U – Ước muốn đời sống mới
    Sự phục sinh không chỉ là một sự kiện, nhưng là lời mời gọi sống một đời mới: bỏ tội lỗi, bước đi trong ánh sáng.
    “Nếu ai ở trong Đấng Christ, nấy là người dựng nên mới.” – 2 Cô-rinh-tô 5:17
  • C – Chiến thắng sự sợ hãi
    Các môn đồ từ chỗ run sợ đã trở nên mạnh mẽ vì biết Chúa sống. Chúng ta cũng có thể vượt qua lo âu, bệnh tật và tương lai.
    “Đừng sợ, vì Ta ở với
    ngươi.” – Ê-sai 41:10
  • S – Sống phục vụ và yêu thương
    Chúa sống lại không để chúng ta chỉ vui mừng cho riêng mình, nhưng để đem tình yêu và sự giúp đỡ đến cho người khác.
    “Hãy đi, khiến muôn dân trở nên môn đồ Ta.” –ý
    của Ma-thi-ơ 28:19
  • I – Im lặng nghe tiếng Chúa
    Maria Ma-đơ-len (Giăng 20:16) nhận ra Chúa khi Ngài gọi tên bà. Giữa bao ồn ào, hãy dành thì giờ yên lặng để nghe tiếng Chúa.
    “Chiên Ta nghe tiếng Ta.” – Giăng 10:27
  • N – Nhìn lên cõi đời đời
    Sự phục sinh bảo đảm rằng đời này không phải là tất cả. Một ngày kia, chúng ta sẽ gặp Chúa và sống với Ngài mãi mãi.
    “Ta là sự sống lại và sự sống.” – Giăng 11:25
  • H – Hát lên lời cảm tạ, vui mừng.
    Người tin Chúa không sống trong buồn nản, nhưng trong niềm vui và lòng biết ơn, vì Chúa đã sống lại thật rồi!
    “Đây là ngày Đức Giê-hô-va đã làm nên; chúng ta sẽ mừng rỡ và vui vẻ trong ngày ấy.” – Thi Thiên 118:24

Top of Form

 

Phục sinh mở cửa thiên ân,
Hy vọng nở giữa muôn phần gian nan.
Chúa nay sống lại vinh quang,
Niềm tin bừng sáng, thiên đàng gần hơn.
Bottom of Form

 

Thứ Bảy, 4 tháng 4, 2026

7 Bài Học về Phục Sinh

 7 Bài Học về Phục Sinh

Sự phục sinh của Jesus Christ không chỉ là một phép lạ, mà là trung tâm của đức tin Cơ Đốc. Nếu Chúa không sống lại, thì niềm tin trở nên vô ích; nhưng vì Ngài đã sống lại, nên mọi lời hứa của Đức Chúa Trời đều trở nên chắc chắn.

1.     Chứng minh Chúa Jesus thật là Con Đức Chúa Trời
Ngài đã nhiều lần báo trước rằng mình sẽ chết và sống lại ngày thứ ba. Khi điều đó xảy ra, lời Ngài được xác nhận là thật.
“Ngài đã được chứng tỏ là Con Đức Chúa Trời… bởi sự từ kẻ chết sống lại” (Rô-ma 1:4).

2.     Chứng minh tội lỗi đã được trả xong
Thập tự giá là nơi Chúa chịu hình phạt thay chúng ta; sự phục sinh là bằng chứng rằng Đức Chúa Trời đã chấp nhận sự hy sinh ấy.
Nếu Chúa vẫn còn trong mồ, tội lỗi chúng ta chưa được giải quyết. Nhưng vì Ngài sống lại, chúng ta được tha thứ.

3.     Đánh bại sự chết và Sa-tan
Sự chết không còn là điểm cuối cùng. Chúa Jesus đã chiến thắng mồ mả, nên người tin Ngài không còn phải sợ chết nữa.
“Ta là sự sống lại và sự sống; kẻ nào tin Ta thì sẽ sống, mặc dầu đã chết rồi” (Giăng 11:25).

4.     Ban cho chúng ta sự sống mới ngay hôm nay
Sự phục sinh không chỉ nói về tương lai sau khi chết, mà còn nói về đời sống mới bây giờ: một tấm lòng mới, một hướng đi mới, một sức mạnh mới để thắng tội lỗi.
Người tin Chúa có thể sống khác trước vì quyền năng phục sinh đang làm việc trong mình.

5.     Bảo đảm rằng chúng ta cũng sẽ sống lại
Vì Chúa đã sống lại, người thuộc về Ngài cũng sẽ được sống lại trong ngày sau rốt.
Ngài là “trái đầu mùa” – nghĩa là sự sống lại của Ngài là bảo đảm cho sự sống lại của những người tin Ngài.

6.     Cho chúng ta niềm hy vọng giữa đau khổ
Khi mất mát, bệnh tật, tuổi già, hay nghịch cảnh đến, sự phục sinh nhắc rằng bóng tối không phải là chương cuối. Sau Thứ Sáu chịu chết là sáng Chúa Nhật phục sinh.
Điều này đặc biệt an ủi những người lớn tuổi và những ai đang đi qua thử thách: Chúa vẫn đang sống và đang cầm tương lai trong tay Ngài
, một hứa hẹn sự sống đời đời.

7.     Thúc giục chúng ta sống cho Chúa
Nếu Chúa đã sống lại vì chúng ta, thì đời sống chúng ta không còn thuộc về chính mình nữa. Chúng ta được kêu gọi sống trung tín, yêu thương, và phục vụ Ngài cho đến cuối cùng.

Một câu ngắn dễ nhớ:

Chúa chết để cứu tôi,
Chúa sống lại để bảo đảm rằng tôi cũng sẽ sống với Ngài.

Chúa Phục Sinh

Chúa sống lại, mộ phần không giữ được,
Tội lỗi tiêu tan, hy vọng sáng ngời.
Đêm đen đã
dứt, bình minh bừng nở,
Ai tin nơi Con được sống đời đời.

 

CHAU FAMILY JOURNEY FROM VIETNAM TO USA

 CHAU FAMILY JOURNEY FROM VIETNAM TO USA

Hiep Chau was born on July 10, 1945, the son of Châu Văn Mừng (1912) and Trương Thị Keo (1914). Chung Chau was born on August 5, 1947, the daughter of Cao Văn Bảy (1907) and Trần Thị Nhẫn (1921).

In 1968, while I (Hiep) was in my third year of medical school, my friend Đỗ Văn Mẫn introduced me to his niece, Chung, who was studying at the University of Science. We came to know and love one another over the next three years. With our parents’ blessing, we became engaged in early 1971 and were married on September 20, 1971.

Our son, Châu Minh Triết, was born on March 10, 1973. At that time, I was interested in the Theosophical Society, which encouraged the search for wisdom in all religions. I therefore named my first child Minh Triết, meaning “wisdom.” My parents were overjoyed because he was their first grandson.

Our daughter, Châu Minh Ngọc, was born on April 20, 1974. Her name combines her mother’s middle name, Minh, and my own middle name, Ngọc. Minh Ngoc means “bright pearl.”

From the day we were married, our family lived with my parents at 183/6 Trần Trung Lập Street, District 6, Chợ Lớn.

In March 1972, I was drafted into the army and served as a medical lieutenant with the 49th Regiment, 25th Division, stationed at Trảng Lớn, Tây Ninh. During this time, Chung continued teaching at Đồng Tiến High School until shortly before Minh Triet was born.

When Minh Triết was eight months old, Chung brought him to join me in Trảng Lớn. Because of frequent shelling from Núi Bà Đen (Black Virgin Mountain), we lived in a bunker for protection.

In 1974, I was transferred to Củ Chi, where I worked as a physician in the infirmary of the 25th Division’s Military Medical Battalion. We were given a small house there, and by then Minh Ngoc had just been born. Because my parents wanted to help care for Minh Triet, he remained in Saigon with them. Though our family had grown to four, our happiness grew even more. Since Củ Chi was close to Saigon, I often brought Chung and baby Ngoc home on weekends to visit both sets of grandparents. Both Ông Bà Nội and Ông Bà Ngoại dearly loved Triet and Ngoc.

Later that year, I was promoted to Captain and assigned to the Thủ Đức Training Center. By early April 1975, I was no longer with the 25th Division. When I reported to my new assignment in mid-April, my superior simply told me to go home and wait for further orders. Vietnam was already descending into chaos.

On April 30, 1975, South Vietnam fell. The collapse of the Republic of Vietnam brought upheaval and sorrow to countless families. Many people tried to flee the country, but I did not. As the only son in my family, and as a doctor, I believed that perhaps the new government would still need me.

That hope did not last long.

One night in June 1975, two soldiers came to our home and arrested both me and my brother-in-law for “re-education.” At first I was sent to Suối Máu in Biên Hòa. About a year later, I was transferred to Trảng Lớn, Tây Ninh, and then to several other camps.

Life in the re-education camps was harsh beyond words. We endured endless political indoctrination, hard labor, hunger, and uncertainty. Many men became sick; some did not survive. The authorities repeatedly promised that if we “studied well,” we would soon be released to our families, yet they rarely kept their word.

During those dark years, the image of my wife and two young children became my source of strength. I told myself again and again: I must survive. I must live long enough to see my family again.

While I was imprisoned, Chung continued teaching at Phan Sào Nam High School and carried the burden of raising our children alone.

In November 1977, I was finally released and returned to my family. By that time, many doctors and other medical professionals had fled the country to escape the communist regime. Faced with a severe shortage of physicians, pharmacists, and nurses throughout Vietnam, the government began releasing medical professionals from the re-education camps.

After returning home, I worked at District 6 Hospital, not far from our house. Each morning I rode my bicycle to work and returned home in the evening. Yet even as a doctor, life under the new regime was painful and humiliating.

I still remember examining a patient one day when someone interrupted and shouted, “Doctor, come to the kitchen and collect your meat ration!” I did not want to leave my patient for a few ounces of meat, so I often replied, “Please give my portion to someone else this time.”

I was grateful simply to have work, because without it, we might have been forced to move to a “new economic zone” in the countryside. Even then, I knew that my children’s future would be limited. As the children of someone who had served the former government, they would likely be denied the opportunity to attend university.

In the evenings, after my hospital work, I quietly treated neighbors in a small private clinic.

Then, in the spring of 1979, everything changed.

A Chinese patient told me that her family was preparing to leave Vietnam by boat through a semi-official program. The government was encouraging ethnic Chinese families to leave, taking their homes and possessions in the process. She asked if we wanted to join them.

My mother believed that there was little future for us in Vietnam. She urged us to seize this chance. After many conversations and much prayerful thought, Chung and I decided that for the sake of our children, we had to leave.

Our parents gave us gold to pay for the journey: eight taels for each adult and one tael for each child. My mother traveled back and forth between Saigon and Bạc Liêu to arrange everything because I was still working and could not leave the city.

Near the end of June 1979, Chung and I, together with our two children and my sister, traveled secretly to Hộ Phòng, Bạc Liêu. My mother and Má Hai escorted us there. The day we left home, my father wept bitterly at the thought of losing his two grandchildren.

The boat, MH 5410, was only nineteen meters long, yet more than 230 people crowded aboard. We were packed together like sardines. Soon we entered rough seas. Huge waves and fierce winds battered the tiny boat. In the middle of the vast ocean, we felt utterly helpless, entrusting our lives to God.

After three or four days, our food was gone and our drinking water nearly exhausted. People became violently seasick. Everywhere there was vomiting, hunger, fear, and despair.

Then we encountered a Thai fishing boat. At first they gave us porridge and offered to tow us to land if we paid them in gold or American dollars. Everyone contributed what little they had.

But they were not rescuers. They were pirates.

They boarded our boat and robbed us of everything. Jewelry was ripped away. Hidden money was discovered and taken. Minh Ngoc still remembers losing the little gold necklace she wore, with its tiny goldfish pendant. The money sewn into Minh Triet’s shirt was stolen as well.

Afterward, the pirates towed us toward Malaysian waters, then cut the rope and abandoned us. The Malaysian navy refused to let us land and instead pushed our battered boat onward toward Indonesia.

Finally, after eight days at sea, Indonesia allowed MH 5410 to enter Kuku Island. We stepped onto land exhausted, hungry, and traumatized—but alive.

Life on Kuku Island was extremely difficult. There was little food, poor sanitation, swarms of flies and mosquitoes, and widespread sickness. Many refugees died there.

Because I had served as an officer in the Republic of Vietnam, our family was eventually accepted to immigrate to the United States under Category 3.

While on Kuku Island and later at Galang refugee camp, I volunteered as a doctor, caring for fellow refugees while we waited for permission to leave.

In July 1980, after a brief stay in Singapore, we finally boarded a plane to America and arrived in Falls Church, Virginia.

For the first month, we stayed with relatives. Later we moved into a small housing-project townhouse on Monticello Drive (later, Linda Lane) in Falls Church, VA. 

While I studied for the FLEX medical examination, Chung worked many different jobs to support our family. We also received government assistance for eighteen months. Our first car was a brown Ford Pinto, purchased brand new for about four thousand dollars. Minh Triet and Minh Ngoc attended Graham Elementary School near our housing-project townhouse.

In 1985, I passed my medical licensing exam and accepted a job in Hollywood, Florida. Two years later, in 1987, we moved again—this time to Jacksonville, where our family would eventually put down roots.

Over the years, we lived at several homes in Jacksonville, but each move marked a new chapter of blessing and stability.

Minh Ngoc married Dien Hoang in 2000. Minh Triet married Quoc Huong in 2003. Ngoc and Dien have three sons; Triet and Huong have two. Though Chung always hoped for at least one granddaughter, our five grandsons have become the precious jewels of our family.

A New Beginning in Faith

In 1982, while waiting for the results of the FLEX examination, I was looking for temporary work. One day, while driving past Fairfax Circle Baptist Church in Virginia, I noticed a sign that read: “Vacation Bible School.”

I had read Buddhist writings and the I Ching, but I knew very little about the Bible. Apart from a few verses I had encountered in books by Hoàng Xuân Việt, I realized how ignorant I was of the Scriptures. Since so much of Western literature and culture is shaped by the Bible, I felt that not knowing it was a serious deficiency.

So I stopped the car and walked into the church office.

Pastor Jennings greeted me warmly. When I told him that I wanted to attend Bible class, he laughed kindly and explained that Vacation Bible School was normally for children. He said he had never before met an adult who wanted to study the Bible in that way.

But seeing my interest, he promised to find someone who would teach me.

A few days later, he called back and told me that two members of the church—Mr. Bill Pettus and Mrs. Lorraine Perry—had volunteered to teach me every Sunday morning.

At first, Chung objected when I invited her to come with me. “Don’t you have something better to do?” she asked.

I smiled and answered, “We are only going to study English—through the Bible.”

That reasoning convinced her. So together we went, bringing Minh Triet, who was nine, and Minh Ngoc, who was eight.

The children joined the children’s classes, while Chung and I studied with our two kind teachers.

As we became part of Fairfax Circle Baptist Church, we saw something beautiful. The Christians there loved one another like family. They cared for each other. Their children were respectful and free from the destructive habits we feared in America.

As immigrant parents, we worried that our children might be swept away by the temptations of a new culture. Instead, we found in the church a place where faith, good character, hard work, and love were nurtured together.

In 1983, Chung and I accepted Jesus Christ as our Savior and were baptized. Minh Triet was baptized in 1985, and Minh Ngoc in 1986.

When we later moved to Florida, we attended South Florida Alliance Church. After settling in Jacksonville, we helped organize a home Bible study group that eventually became the Vietnamese Christian Church of Jacksonville.

For more than forty years, we have walked with the Lord. Through that journey, God has corrected us, comforted us, and changed us.

I have become less impatient and more gentle; less judgmental and more understanding; less quick-tempered and more at peace. I have learned not to cling to temporary things, but to treasure what is eternal.

Over the years, I invested in many things. But leading my family to Jesus Christ was, without question, the greatest investment of my life.

Nothing is better than living in love, faith, and hope.

Today, my wife, my children, and my grandchildren all walk with God. The third generation—our “olive shoots”—is growing and flourishing in the house of the Lord.



Bottom of Form

 

Thứ Năm, 2 tháng 4, 2026

Tuần lễ thánh theo thứ tự từng ngày

 Tuần lễ thánh (Holy Week) theo thứ tự từng ngày:

  1. Palm Sunday – Chúa Jesus vào thành Jerusalem, dân chúng trải lá chà là đón Ngài (Ma-thi-ơ 21).
  2. Holy Monday – Thường gắn với việc Chúa dẹp những người buôn bán khỏi đền thờ và quở cây vả không trái.
  3. Holy Tuesday – Chúa giảng dạy trong đền thờ, nói nhiều ẩn dụ và lời tiên tri về ngày sau rốt.
  4. Spy Wednesday – Giu-đa âm mưu phản Chúa, nhận ba mươi đồng bạc.
  5. Maundy Thursday – Bữa Tiệc Ly, Chúa rửa chân môn đồ, lập Tiệc Thánh, rồi cầu nguyện trong vườn Ghết-sê-ma-nê, bị bắt dẫn đến thầy tế lễ thượng phẩm.
  6. Good Friday – Chúa bị đóng đinh và chịu chết trên thập tự giá.
  7. Holy Saturday – Thân thể Chúa ở trong mộ; các môn đồ chờ đợi trong đau buồn.
  8. Easter Sunday – Chúa Jesus sống lại vinh hiển từ kẻ chết.

Theo năm 2026, các ngày là:

  • Palm Sunday: 29/3/2026
  • Holy Monday: 30/3/2026
  • Holy Tuesday: 31/3/2026
  • Spy Wednesday: 1/4/2026
  • Maundy Thursday: 2/4/2026
  • Good Friday: 3/4/2026
  • Holy Saturday: 4/4/2026
  • Easter Sunday: 5/4/2026