Thứ Bảy, 29 tháng 1, 2022

Hai Mỹ Đức đáng được trân quý

Hai Mỹ Đức đáng được trân quý

(hay Câu Chuyện Đổi Đời – phần 8)

Sau khi vị hôn thê từ hôn, Nghĩa bị trầm cảm nặng. Trường học đề nghị Nghĩa tạm nghỉ dạy để trị bệnh.  Chừng thấy mình trở lại bình thường, thì Nghĩa cũng biết mình bị mất việc vì nhà trường đã tìm người khác thay.  Nghĩa từ đó giúp mẹ trong tiệm may, và đồng thời dạy kèm môn Toán cho một ít học sinh.  Nghĩa luôn vui vẻ, nhẫn nhịn, lắng nghe những lời góp ý của người khác, tận tâm làm việc theo câu dạy: “Hễ làm việc gì, hãy hết lòng mà làm, như làm cho Chúa, chớ không phải làm cho người ta” (Cô-lô-se 3:23).  Ai tiếp xúc một ít lâu đều mến Nghĩa.

Thời gian gần đây, nhiều người để ý thấy khi ký tên, Nghĩa thêm cái đuôi T2 vào chữ ký cũ.  Nghĩa giải thích T2 hay “T Bình Phương”, nghĩa là Thương yêu X Tha thứ.  Nghĩa suy ngẫm rất nhiều về hai mỹ đức này và nhận thấy đây là 2 đức quan trọng nhất trong các mỹ đức giúp con người sống trọn lành giữa nhân quần xã hội. 

Nghĩa đã cảm động trước tình yêu thương của Đức Chúa Trời đối với thế gian, Chúa Giê-su đã hy sinh thân mình vì chính tình yêu vô điều kiện ấy.  Ngài cũng thốt lời xin Chúa Cha tha thứ cho những kẻ đã đóng đinh Ngài, như đã chép trong Phúc Âm Lu-ca 23 “Đức Chúa Jêsus cầu rằng: Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết mình làm điều gì” (câu 34a).

Nghĩa xem lại câu chuyện “Lãng Tử Hồi Đầu” mà Mục sư Quân có lần diễn giải thì thấy người anh hậm hực với cha;  cay đắng, ganh tị với em khi ông cha trân trọng đón tiếp người em trở về.  Tất cả chỉ vì thiếu tình thương yêu và tha thứ!

Gia đình nào có tình thương yêu & tha thứ sẽ là gia đình hạnh phúc, có niềm vui, có tiếng cười, những đứa trẻ lành mạnh sẽ được nuôi dưỡng.  Gia đình nào thiếu tình thương yêu & tha thứ thì nhiều lộn lạo xảy ra.  Tổ uyên ương không còn ấm nữa mà biến thành tổ lạnh.  Ai không yêu thương vợ con (hay chồng con) mà nghĩ rằng mình yêu Chúa là tự lừa dối mình.

Xã hội nào thiếu tình thương yêu và tha thứ thì dễ đưa đến tình trạng bát nháo, mất trật tự.  Và khi tham lam & thù hận lên ngôi thì sẽ tới giai đoạn thiên hạ đại loạn.

Nghĩa cảm thấy có sứ mạng sống và rao truyền sứ điệp T2 sao cho cá nhân được hân hỉ, gia đình hài hòa, xã hội hòa hảo, thiên hạ hoan ca.

Để thực hành, Nghĩa nghĩ tới ông bà nhạc “hụt”.  Chàng chứng tỏ là mình không ôm hận thù, mà sẵn lòng thương yêu & tha thứ dù người gieo khổ chưa hề mở miệng xin lỗi.  Ngày gần Tết, Nghĩa gửi thiệp và quà tới nhà ông bà trước, rồi ngày mồng 2 Tết, chàng tới thăm ông bà.  Thiệp và quà đi trước để ông bà không ngỡ ngàng khi chạm mặt Nghĩa.  Khi Nghĩa đích thân tới thăm thì ông bà biết chàng đến với thiện chí hòa bình.  Ông bà vô cùng cảm động, viết thư cám ơn, cho biết rằng nghĩa cử của Nghĩa đã giúp ông bà vui sống trở lại và hết mặc cảm tội lỗi. 

Mỗi lần nhìn vào thập tự giá, Nghĩa nghĩ đến con số 10 vì thập tự (十字) theo Hán văn là số 10.  Số 1 làm Nghĩa nghĩ đến mỹ đức đầu tiên trong Trái Thánh Linh là tình yêu thương.  Số 0 làm chúng ta nghĩ tới vạn sự giai không, tất cả sẽ cuốn theo luồng gió thổi, theo dòng nước cuốn trôi. Vậy tại sao không buông bỏ, tại sao không tha thứ?  Thập Tự giá tượng trưng cho tình yêu thương và tha thứ của Đấng Christ đối với nhân loại:

Tuân phụ lệnh, Con Trời giáng thế,
Thương nhơn loài, Cứu Chúa hy sinh.

Một đoạn diễn tả tình yêu thương thật hay trong thư Cô-rinh-tô, chương 13: “4 Tình yêu thương hay nhịn nhục; tình yêu thương hay nhân từ; tình yêu thương chẳng ghen tị, chẳng khoe mình, chẳng lên mình kiêu ngạo, 5 chẳng làm điều trái phép, chẳng kiếm tư lợi, chẳng nóng giận, chẳng nghi ngờ sự dữ, 6 chẳng vui về điều không công bình, nhưng vui trong lẽ thật. 7 Tình yêu thương hay dung thứ mọi sự, tin mọi sự, trông cậy mọi sự, nín chịu mọi sự.”

Qua tình thương yêu và lòng tha thứ, phép lạ có thể xảy ra: Người nhận thay đổi tấm lòng; người cho sẽ nhận được ơn thiên thượng.  Ai ai cũng cần cho và nhận 2 mỹ đức quý báu này. 

***

Cám ơn nhà thơ TMN có bài thơ diễn ý: 

Hai Mỹ Đức Cần Có

"Lòng yêu thương phải cho thành thật. Hãy gớm sự dữ mà mến sự lành." - Rô-ma 12:9

"Sự yêu thương chẳng hề làm hại kẻ lân cận; vậy yêu thương là sự làm trọn luật pháp." - Rô-ma 13:10

Thương yêu, tha thứ, hai mỹ đức,

Linh nghiệm chữa lành, hết mọi người,

Liên kết anh em, trong Ân Điển,

Bình an, vui thỏa, khắp nơi nơi!

Hết lòng thành thật, trong quan hệ,

Hãy sống sáng Danh, Chúa rạng ngời,

Chớ có cằn rằn, hay gian dối,

Thương yêu, tha thứ, mãi không ngơi!

Tiểu Minh Ngọc


Thứ Bảy, 15 tháng 1, 2022

Câu Chuyện Đổi Đời (Phần 7)

Câu Chuyện Đổi Đời (Phần 7)

Hôm nay, ngày Chúa Nhật, trước 9 giờ sáng đã có nhiều người, phần lớn ở tuổi cao niên, tới phòng thông công Hội thánh, uống trà, cà phê, ăn bánh ngọt và trò chuyện.  Bà Liêm cũng tới sớm để làm quen các bà.   Mục sư Quân, em ông Tùng, quản nhiệm Hội thánh từ nhiều năm nay.   

Nghĩa đưa mẹ đến dự, trong khi đó  Tiến đến cùng chị và 2 em trai.  Tất cả được hoan nghênh trong giờ đầu.   Mục sư giảng luận đề tài “Người con trai hoang đàng” trong sách Phúc Âm Lu-ca chương 15 (11-32).

          Chúa kể rằng có một ông cha có hai đứa con trai. Người con lớn siêng năng làm việc; đứa em thì ngược lại, lười biếng, ham chơi. Một hôm, người em đến nói với cha: “Cha ơi, xin chia cho con phần gia tài của con. Con muốn có số tiền đó bây giờ.”

Người cha chưa chết mà con đã đòi chia gia tài nên ông buồn lắm, không muốn chia.  Nhưng vì người con cứ năn nỉ ỉ ôi, nên cuối cùng người cha lấy tiền đem chia cho cả hai con. Người con nhỏ được nắm tiền trong tay nên vui vẻ lắm, bèn cầm tiền đó ra khỏi nhà, đi đến một nơi xa lạ.  Ông cha tìm cách can ngăn nhưng không được nên ông đành để cho con đi.  Người con sung sướng mang cả phần gia tài đi ra tỉnh thành.  Ở đó, chàng tự do ăn chơi. Chàng kết bạn với những người xấu, những người bạn này lôi kéo chàng vào những chỗ trác táng, và chàng tiêu xài tiền bạc cách phung phí.

           Không biết có bao giờ chàng ta nghĩ đến cha hay không, mà cứ tiếp tục vùi đầu vào những buổi tiệc tùng, ca hát, rượu chè, cờ bạc...  Chẳng bao lâu tiền của hết sạch.  Những người bạn thân bắt đầu làm ngơ và dần dần xa lánh.  Có lúc chàng ta không còn tiền để mua thức ăn.  Lúc ấy trong vùng đó lại gặp nạn đói lớn.  Không một bạn nào giúp đỡ.  Hoàn cảnh lúc đó thật bi đát, chàng ta đành phải xin việc chăn heo để có miếng ăn qua ngày.

Đối với người Do Thái, heo là con vật ô uế, chăn heo là một công việc thấp kém, hèn hạ, nhưng chàng không có nghề gì khác nên đành phải nhận công việc này để khỏi chết đói. Đã vậy, vì ăn không đủ no, chàng muốn lấy vỏ đậu của heo ăn để ăn cho đỡ đói mà chủ cũng không cho.  Nhìn lại thân mình, đói rách, hôi hám, tủi nhục, chán nản, thất vọng.  Chàng chợt nghĩ đến gia đình!  Nghĩ đến hình ảnh người cha thân yêu, gia đình no đủ êm ấm, chàng thấy mình quá dại dột.  

Chàng thầm nghĩ: Trong nhà cha mình những người giúp việc còn có thức ăn dư dật mà mình ở đây phải chết đói. Thôi, mình hãy về xin lỗi cha, xin làm người giúp việc trong nhà cha cũng còn sung sướng hơn. Nghĩ thế nên chàng thanh niên liền xin nghỉ việc và lên đường trở về nhà.

Từ khi người con bỏ nhà đi, ông cha rất là nhớ thương và lo lắng. Ngày ngày ông ra cửa đứng trông đợi con. Ông mong có một ngày con ông sẽ ăn năn trở về. Ngày hôm đó, ông cũng ra cửa trông ngóng như mọi ngày, bỗng thấy đàng xa có một người đi về phía nhà ông.  Khi người đó đi đến gần, ông giật mình kinh ngạc, rồi  mừng rỡ vì đó chính là đứa con trai yêu quý của ông.  Ông lật đật chạy ra đường đón con. Ông vui mừng ôm đứa con yêu dấu vào lòng. Gặp lại cha, chàng thanh niên vừa xấu hổ vừa hối hận nên nói: “Thưa cha, con thật có tội với trời và với cha, không đáng được gọi là con của cha nữa.”  Nhưng người cha không để ý lời con nói. Được gặp lại đứa con yêu dấu, ông mừng quá, vội vàng dẫn con vào nhà, gọi người giúp việc bảo: “Hãy mau lấy áo tốt nhất mặc cho con ta, đeo nhẫn vào tay, mang giày vào chân. Hãy bắt bò con mập làm thịt. Chúng ta hãy ăn mừng, vì con của ta đây đã chết mà bây giờ lại sống, đã mất mà bây giờ lại gặp.” Thế là mọi người trong gia đình vui vẻ chuẩn bị một bữa tiệc để ăn mừng người con đi hoang đã trở về.

Đức Chúa Trời đã tạo dựng nên chúng ta. Ngài là Người Cha Nhân Từ, lúc nào cũng yêu thương, quan tâm đến chúng ta.  Cha nhân từ luôn đầy tình yêu thương, tha thứ miễn là chúng ta là con cái biết hối lỗi trở về nhà Cha.

Bài học hôm nay Mục sư Quân muốn đặt tên là “Lãng Tử Hồi Đầu” nghĩa là đứa con hoang đàng quay trở về nhà Cha. Tựa này nhắc cho phần quan trọng là chúng ta hối hận việc sai trái lúc trước, quyết tâm dứt bỏ thì mới được ơn thương xót là ân sủng mà Đức Chúa Trời ban cho.  Sự hối hận của người biết lỗi rất quý báu, ngay vàng cũng không đổi được, như ý câu thơ “Lãng tử hồi đầu kim bất hoán”  浪子回頭金不換.

Đây là ẩn dụ được biết đến nhiều nhất của Chúa Giê-su, chỉ được chép lại trong Phúc âm Lu-ca, làm nổi bật thông điệp: Tình yêu và ân điển của Thiên Chúa được ban cho vô điều kiện. Sự tha thứ dành cho người con không dựa trên việc làm hay trên công đức, mà dựa trên tình thương yêu.  Chỉ cần người con thống hối trở về, là tấm lòng bao dung của người cha mở ra đón nhận.

Cuối bài giảng, Mục sư Quân hỏi có ai cảm động tình yêu thương vô điều kiện của Thiên Chúa, cùng nhận biết mình đã xa nhà Chúa từ lâu, nay muốn trở về nhà Cha thì ông sẽ cầu nguyện cho.  Nghĩa và Tiến bước lên xin cầu nguyện.  Mục sư Quân nhìn  vào tên của Nghĩa, có hứng thú chiết tự:   Nghĩa義 gồm chữ Dương 羊là con chiên ghép với chữ Ngã 我là tôi.  Chữ này có ý nghĩa rất đặc biệt, vì con chiên tượng trưng cho Chúa Giê-su đổ huyết, hi sinh mạng sống để tôi cũng như bất cứ ai nhìn và nhận ra Chúa Giê-su chết vì tội lỗi mình thì sẽ được xưng công nghĩa, nghĩa là sẽ hưởng được cơ nghiệp đời đời gồm 3 phần: tội lỗi được tha, linh hồn được cứu rỗi và hưởng được sự sống đời đời.

Sau giờ, Mục sư sắp xếp cho Nghĩa và Tiến chương trình học lớp Báp-têm.  Bước ra khỏi phòng nhóm, mọi người tới chúc mừng 2 con cái Chúa mới.  Nghĩa và Tiến cảm thấy một niềm vui chất ngất trong lòng vì đã quyết định được một điều quan trọng của cuộc đời.

Châu Sa ghi.

Thứ Năm, 30 tháng 12, 2021

Câu Chuyện Đổi Đời (Phần 6)

Câu Chuyện Đổi Đời (Phần 6)

Sáng thứ sáu của tuần thứ hai, bà Liêm định giúp cho Nghĩa và Tiến tập đàm thoại Anh ngữ theo App 500 English Conversations.  Nhưng trước tiên, bà hỏi: “2 con tối qua có ngủ ngon không?” Nghĩa đáp: “Bà Năm ơi, tối hôm qua con cứ trằn trọc, suy nghĩ hoài câu Kinh Thánh nói về sự sống đời đời.  Con muốn nghe bà nói thêm chuyện này.”  Bà Liêm cười thật tươi, thốt lên “Cảm tạ Chúa”.  Bà giải thích là tối qua, bà đã cầu nguyện xin Chúa cho bà cơ hội để nói về ơn cứu rỗi cho Nghĩa và Tiến.  Bây giờ, bà biết là lời cầu xin của bà được Chúa nhậm khi biết Nghĩa sẵn sàng mở tai, mở lòng để nghe.  Bà tâm sự là bất cứ ai nhận được ơn sủng cứu rỗi từ Thiên Chúa đều khao khát muốn thuật lại cho bạn bè, thân nhân mình biết.  Nhưng điều này không phải dễ vì không ít người có thành kiến, hay dị ứng với Kinh Thánh, với Chúa Giê-su nên không muốn nghe nhắc đến.  Vì vậy, bà phải cầu nguyện thật nhiều để Chúa cho đúng người muốn nghe, đúng thời điểm để nói.  Chứng đạo không đúng thời điểm cũng giống như “mời người no ăn bánh bò”.  Có khi người nghe vì nể người nói mà tiếp nhận Chúa liền, thì kết quả sẽ không hay, kết cục giống như “Chuối non vú ép chát ngầm”.  Bà thích hình ảnh, bà già xách bị đi ngang cây thị, dòm lên thấy trái thị  chín mùi, chỉ đợi rụng.  Bà mở rộng miệng bao bị, mời: “Trái thị! Rớt bị bà già”.  Trái thị nghe lời mời, bèn gieo mình rớt tọt vào bị bà. 

          Bà Liêm bảo Nghĩa mở sách Sáng Thế ký, đọc chương 1, câu 1.  Nghĩa đọc: “Ban đầu, Đức Chúa Trời dựng nên trời đất”.  bà lại bảo Tiến, mở bộ GNT tiếng Anh, tìm sách Genesis, chapter 1, verse 1, đọc lên: “In the beginning, when God created the universe…” Bà giải thích theo Kinh Thánh, Đức Chúa Trời, mà mình thường gọi tắt là ông Trời, tạo ra vũ trụ vạn vật muôn loài, giống nào theo giống nấy, trong đó có con người. 

Đức Chúa Trời tạo dựng con người, nhưng con người có biết ơn không?  Không.  Họ chống lại Chúa, phỉ báng Chúa.  Chống lại Đức Chúa Trời là tội trọng, linh hồn không được trở về với Chúa, Kinh Thánh nói là hư mất.  Linh hồn nào trở về với Chúa là được sự sống đời đời, Kinh Thánh gọi là sự cứu rỗi. 

Bà trình bày chương trình cứu rỗi một cách đơn giản, bằng cách dùng 5 ngón tay trong một bàn tay.  Ngón cái tượng trưng cho sự cứu rỗi, hay sự sống đời đời mà Nghĩa đang muốn tìm hiểu và khao khát nhận.  Ngón giữa là ngón tay cao nhất tượng trưng cho Đức Chúa Trời (ĐCT).  ĐCT luôn luôn muốn ban cho nhân loại món quà cứu rỗi.  Nhân loại có nhận quà này dễ dàng không?  Không đâu.  Từ ngón giữa qua ngón cái bị kẹt ngón trỏ.  Ngón trỏ tượng trưng cho tội lỗi của con người, làm chướng ngại vật không cho con người nhận quà từ ngón giữa (ĐCT).  Bà hỏi Nghĩa và Tiến có nhớ sự mâu thuẫn giữa tình yêu thương thế gian và tính thánh khiết của ĐCT ngày hôm qua bà nói không?  Con người bất lực trước sức mạnh của tội lỗi, có người muốn làm điều lành nhưng điều ác cứ vấn vương, xui giục.

Để giải quyết, ĐCT sai con một của Ngài là Chúa Giê-su, mà ngón áp út tượng trưng, hy sinh chịu chết, huyết Chúa Giê-su là của chuộc tội cho nhân loại.  Sự cứu chuộc chỉ hiệu nghiệm khi người nào hiểu và nhận huyết Chúa tẩy sạch hết tội lỗi của mình.  Ngón tay út tượng trưng cho đức tin của chúng ta.  Hai con có tin điều đó không, có nhận Chúa Giê-su là Cứu Chúa của đời mình không?  Cả hai Nghĩa và Tiến đều muốn tin nhận.  Bà cầu nguyện cho 2 đứa.  Bà nói từ nay, Thánh Linh sẽ ở cùng 2 con và gieo những hạt giống của Trái Thánh Linh vào lòng để các con trở nên người mới.  Bà nói Nghĩa và Tiến nên tới nhà thờ mà Mục sư Quân, em ông Tùng, làm quản nhiệm để bày tỏ đức tin trước mặt mọi người vì Chúa Giê-su đã chết vì tội lỗi của con một cách tỏ tường thì ĐCT muốn các con công bố niềm tin trong Cứu Chúa một cách công khai. 

Những gì bà nói hôm nay chỉ là sơ lược, 2 con cần đọc Kinh Thánh thường xuyên, mỗi ngày ráng đọc được 1 chương, đi thờ phượng Chúa mỗi tuần, kết bạn thông công với anh em trong Hội thánh.

Vừa lúc đó, ông Tùng xuất hiện, thông báo “Tới giờ Ngọ rồi, mời bà chị và 2 cháu ra phòng ăn.  Hôm nay, mình ăn Lẩu Vịt Om Sấu Khoai Sọ. À, chị Liêm có ăn món này chưa?”  Bà Liêm: “Chưa, nhưng tôi sẵn sàng thử” .

Chiều hôm qua, bà Liêm tìm trên internet mới biết đây là món ăn đặc biệt của người miền Bắc vì cây sấu mọc rất nhiều và dễ trồng ở miền Bắc, có lẽ do khí hậu thích hợp.  Trái sấu nhỏ hơn trái cóc, có vị chua đặc biệt, người ta hay dùng làm ô-mai sấu, nấu canh… Còn chữ “Om” có lẽ đồng nghĩa với “Um” là nấu lửa nhỏ, hầm lâu.  Nghe qua lời giải thích của bà Liêm, cả hai cậu thanh niên đều háo hức muốn thử.  Ông Tùng cho ăn lẩu với bún.  Lủa than giữa lò lẩu còn cháy đỏ, nước lèo đang sôi, một mùi thơm dễ chịu bay tỏa quanh bàn ăn.  Bà Liêm xin phép cầu nguyện cảm tạ Chúa cho bữa ăn, cảm tạ lòng tốt của ông Tùng thết đãi hôm nay một món ăn lạ miệng.  Sau đó, mọi người cầm đũa.  Món lẩu vịt này được ông Tùng chăm chút khi nấu nên ăn rất ngon miệng.   Miếng thịt vịt được om đúng độ nên rất mềm, hòa cùng vị sấu chua chua, khoai sọ bùi bùi, nước dừa ngọt, beo béo, thêm vị cay của ớt, mùi thơm của gừng, của sả.  Thịt vịt chấm nước mắm gừng.  Tất cả đánh vào thị giác, khứu giác, vị giác tạo nên một món ăn hợp khẩu tuyệt vời.

Ông Tùng cám ơn mọi người sẵn sàng thử món lạ.  Ông vui khi người ăn tận tình thưởng thức món ông nấu.  Gặp người kén ăn, người khó ăn, ông thấy như mất hào hứng nấu nướng.  Bà Liêm kể chuyện ông trưởng ban cao niên Hội thánh bà ở Mỹ, mỗi lần cả nhóm đi ăn buffet ở nhà hàng, ông nhắc mọi người cứ mạnh dạn thử nhiều món, món nào thấy không ngon thì ăn ít, món ngon thì ăn nhiều.  Ông thường ngâm to 2 câu thơ:

Ăn được bao nhiêu là lãi đấy,

Nếu không ăn thiệt ấy ai bù?

                    Trước khi chia tay, ông Tùng nhắc mọi người nhớ đi thờ phượng sáng mai.

Châu Sa ghi


Thứ Hai, 27 tháng 12, 2021

Câu Chuyện Đổi Đời (Phần 5)

 Câu

Chuyện Đổi Đời (Phần 5)

Ngày thứ năm của tuần thứ hai, bà Liêm giúp cho Nghĩa và Tiến tải vào iPhone và iPad các App 500 English Conversations, App Holly Bible (YouVersion).  Bà giải thích khi bà sang Mỹ, tìm cách trau dồi Anh ngữ, bà nhớ lại thân mẫu bà ngày xưa dùng sách “Minh Tâm Bảo Giám” là sách châm ngôn hay là sách học làm người để học chữ Hán, nên bà nghĩ cách dùng Kinh Thánh để học tiếng Anh.  Bà đã được khuyên dùng bản GNT (Good News Translation) đối chiếu với bản Kinh Thánh tiếng Việt để học.  Quyển Kinh Thánh gồm 66 sách, mỗi sách chia ra nhiều chương, mỗi chương chia nhiều câu đánh dấu rõ ràng, nên đọc đối chiếu qua lại rất dễ.

Nghĩa hỏi: “Bà Năm thường hay nhắc đến Kinh Thánh, vậy có phải Kinh Thánh là sách gối đầu giường của bà?” Bà Liêm (thứ Năm) tươi cười cho biết Nghĩa dùng chữ “sách gối đầu giường” là chính xác.  Trước khi ngủ, bà đọc 1 chương, sáng thức dậy, bà đọc 1 chương.  Tiến thắc mắc: “Bà Năm ơi, Kinh Thánh chắc kể chuyện về các ông thánh, bà thánh hả bà?”  Bà Liêm đáp: “Cũng có một phần, lúc trước bà cũng nghĩ như vậy, nhưng sau một thời gian đọc và học, bà có thể nói một cách tổng quát:  Kinh Thánh là một bức thư tình, kể chuyện tình Trời đối với đất, tình Thiên đình đối với người trần thế, tình yêu vô đối của Đấng Sáng Tạo với nhân loại là vật thọ tạo của Ngài.  Đọc sâu hơn, bà thấy sự mâu thuẫn giữa tình yêu Thiên Chúa và tội lỗi thế gian.   Khi tội lỗi xâm nhập vào thế gian, con người mất đi bản tánh thương yêu mà Thượng Đế ban cho, toàn bộ nhân cách gồm lý trí, ý chí và tình cảm bị bẻ cong quẹo nên trở thành những người tham lam, thù hận.  Vì tham và thù, người ta sẵn sàng giết chóc.  Ngay cả có người giết hàng loạt người vô can, họ giết một cách hả hê, thích thú.  Họ như mất cả nhân tính, không nói chi  đến thiên tính.  Kinh Thánh cho biết tội lỗi phải trả giá là linh hồn tội nhân không được trở về với Đức Chúa Trời mà bị hư mất đời đời.  Đức Chúa Trời có hai bản tánh:  1thương yêu và 2thánh khiết, hàm ý công bình, chí công vô tư. 

Trong đời sống hằng ngày, chúng ta lắm lúc gặp hoàn cảnh mâu thuẫn khó giải quyết cho vẹn đôi đường, gọi là:  “tình lý lưỡng nan toàn”.  Có người khó xử giữa “bên tình, bên hiếu”; có người lúng túng giữa tình yêu và kỷ luật đối với một đứa con ngỗ nghịch… Một ông quan tòa nhân từ dễ bị kẹt giữa tình thương và pháp luật khi xử án.  Nếu nặng về tình thương thì dễ bẻ quẹo công lý, nếu nghiêng quá về pháp luật thì sẽ “thẳng mực tàu, đau lòng gỗ”.   

Bây giờ, ông Tùng lên tiếng nhắc câu chuyện một ông thẩm phán có cách xử án rất lạ ở New York năm xưa, được nhiều người thích và hay kể lại.  Bà Liêm mời mọi người nghe câu chuyện:

Thẩm Phán  Xử Án Cụ Bà

Mùa đông năm 1935 là khoảng thời gian mà nền kinh tế của nước Mỹ tiêu điều nhất. Không khí ảm đạm bao trùm toàn bộ thành phố New York, nơi cư ngụ của những đứa trẻ lang thang, những mảnh đời vất vưởng, và những gia đình túng thiếu không có bữa ăn no…

Vào một đêm lạnh giá giữa tháng 1/1935, một phiên tòa được tổ chức trong khu phố nghèo nhất New York. Đứng ở vị trí thẩm phán là Thị trưởng của thành phố, ông Fiorello LaGuardia.  Nguyên cáo là chủ lò bánh mì và bị cáo là một bà lão đã gần 60 tuổi, áo quần cũ rách cùng với dáng vẻ sầu não.  Gương mặt tiều tụy của bà hiện lên vẻ xấu hổ, bà đã bị buộc tội ăn cắp một ổ bánh mì.

Thị trưởng Fiorello LaGuardia, cũng là quan tòa, hỏi: “Bị cáo, bà bị tố là đã lấy trộm bánh mì, có đúng vậy không?”  Bà lão cúi mặt xuống, ấp úng đáp: “Vâng thưa quan tòa, tôi đã lấy trộm”.

“Vì sao bà lại lấy trộm? Có phải vì bà đói không?” – quan tòa lại hỏi.  “Thưa quan tòa, tôi rất đói. Nhưng nếu chỉ vì đói thì tôi đã không làm như vậy”, bà lão trả lời, “Con rể của tôi đã bỏ ra đi, còn con gái tôi thì ốm liệt giường. Tôi cần chiếc bánh mì này để nuôi hai đứa cháu ngoại đang chết đói… Tụi nó đói lắm…” Nói đến  đây bà bật khóc.

Bà lão nói xong, đám đông trong phòng xử án vang lên tiếng xầm xì bàn tán.

Ông Thị trưởng thở dài.  Ông nhìn khắp gian phòng một lượt, rồi quay sang bà lão, nói: “Bị cáo, tôi phải xử phạt bà vì luật pháp luôn công bằng và không có ngoại lệ đối với bất kỳ một ai.  Bà có 2 lựa chọn, và bà phải chọn 1 trong 2.  Bà hoặc là nộp phạt 10 đô-la, hoặc bị giam 10 ngày trong tù.”

Bà lão đáp: “Thưa quan tòa, tôi thích đóng tiền phạt hơn đi tù.  Song, nếu tôi có 10 đô-la thì đã không lấy cắp bánh mì. Vậy tôi xin được giam 10 ngày. Nhưng (bà thổn thức).. con gái và hai cháu tôi, ai sẽ chăm sóc chúng đây?”

Ông Thị trưởng rút trong túi ra 10 đô-la rồi bỏ vào chiếc mũ lật lên của mình.  Ông trịnh trọng nói:  “Đây là 10 đô-la tiền phạt, bà được tự do!” Rồi ông lại hướng cặp mắt về phía những người tham dự phiên tòa: “Bây giờ, mong các vị hãy nộp 50 xu tiền phạt mỗi người. Tiền phạt để trừng phạt cho sự thờ ơ, hờ hững của chúng ta, vì đã để một bà lão khốn khổ phải đi ăn cắp bánh mì nuôi những đứa cháu sắp chết đói”. Ông quay sang và đưa chiếc nón cho một nhân viên pháp đình (Bailiff), nói:  “Pháp Cảnh, hãy đi thu tiền phạt và trao tất cả cho bị cáo”.

Tất cả mọi người có mặt tại phiên tòa khi ấy đều không khỏi kinh ngạc. Không khí  lặng im như tờ. Trong phút chốc, tất cả mọi người lặng lẽ đứng lên, lấy ra 50 xu và bỏ vào chiếc mũ của ông Thị trưởng.

Ngày hôm sau, tất cả các tờ báo của thành phố New York đều đồng loạt đưa tin về sự kiện lạ lùng này: 47 đô-la tiền phạt đã được trao cho một bà lão nghèo khổ, từng ăn cắp bánh mì để nuôi những đứa cháu đang chết đói của mình. Ngay cả người chủ lò bánh mì, cũng như các quan khách và cảnh sát trong thành phố, đều sẵn lòng nộp phạt 50 xu sau đó.

Đó là câu chuyện về ông Thị trưởng Fiorello LaGuardia, cũng là người đã đưa New York vượt qua những tháng ngày đen tối nhất của cuộc Đại khủng hoảng kinh tế.  Ông được người dân New York yêu mến gọi bằng cái tên “Bông hoa bé nhỏ” vì chiều cao khiêm tốn 5’2” và cái tên Fiorello (trong tiếng Ý, “Fiorello” nghĩa là “bông hoa nhỏ”).  (ST)

Dù hoàn cảnh của bà cụ rất đáng thương, nhưng quan tòa vẫn phải xử phạt, bởi luật pháp luôn công minh và không có ngoại lệ đối với bất kỳ ai.  Tuy nhiên, ông thẩm phán lại là người bỏ tiền ra trả tiền phạt để bà cụ không phải ngồi tù. Sau đó, bất ngờ hơn, ông còn tiếp tục xử phạt, nhưng không phải bà lão, mà là tất cả những ai đang chứng kiến sự việc, những con người thờ ơ, vô tâm, khiến một bà lão nghèo phải đi ăn cắp bánh mì nuôi cháu.  Cách xử án của vị thẩm phán  có vẻ ngược đời, nhưng lại khiến tất cả mọi người xúc động và ngợi khen.

Bà Liêm lại nói tiếp: “Khi bà đọc câu chuyện này, bà tự hỏi không biết ông Thị trưởng khi xử án này có nghĩ đến cách Đức Chúa Trời giải quyết mâu thuẫn giữa tình thương và công lý bằng cách ban con một của Ngài là Chúa Giê-su, xuống trần để chịu tội thay cho nhân loại.  Nhân đó, ai tin vào điều này sẽ được trắng án, linh hồn sẽ đoàn viên với Đức Chúa Trời sau khi thân xác lìa đời.  Một câu Kinh Thánh trong sách Giăng, chương 3, câu 16 được nhắc tới thường xuyên: “Vì Đức Chúa Trời yêu thương thế gian, đến nỗi đã ban Con một của Ngài, hầu cho hễ ai tin Con ấy không bị hư mất mà được sự sống đời đời.”

          Bà Liêm nói đến đây thì khách vào nhà hàng khá đông để ăn trưa, ông Tùng xin phép lui ra để phụ công việc nhà hàng.  Trước khi đi ra, ông ngỏ lời mời 3 người ăn trưa ngày mai.  Ông nói sẽ đãi món “lẫu vịt om sấu khoai sọ”.  Ông Tùng thấy mọi người có vẻ ngơ ngác với cái tên thức ăn khá lạ, bèn nói: “Ngày mai, tôi sẽ giải thích nguồn gốc món này.”

(Còn Tiếp) 

Thứ Tư, 22 tháng 12, 2021

Câu Chuyện Đổi Đời (Phần 4)

 Câu Chuyện Đổi Đời (Phần 4)

Ngày thứ tư của tuần thứ hai,  Bà Liêm, Nghĩa và Tiến, bạn của Nghĩa, đến quán ông Tùng để sắp xếp một phòng phía Tây mà ông Tùng cho phép sử dụng để làm phòng học.

Nguyên do là ngày hôm trước bà Liêm hứa dạy cho Nghĩa internet và Anh ngữ.  Nghĩa sẽ mua một laptop, sách học và xin rủ thêm vài bạn tới cùng học.  Phòng này có bàn, ghế cho 20 người, có internet.  Các hội đoàn của cộng đồng thường hay mượn để họp hành.  Trên tường có treo tấm tranh hình con hạc đậu trên lưng con rùa, có tấm bảng thực đơn 9 món.  

Nghĩa đọc bảng thực đơn, bỗng bật cười vì những món này không ăn được gồm có: 1Yêu thương, 2Vui mừng, 3Bình an,  4Nhẫn nhịn, 5Nhân từ, 6Hiền lành, 7Trung tín, 8Khiêm nhu, 9Tiết độ.  Cuối bảng ghi là Trái Thánh Linh. 

Thực đơn này hoàn toàn khác với thực đơn 9 món mà Nghĩa và vị hôn thê định đãi tại nhà hàng chuyên về yến tiệc.  9 món đó là:  4 món khai vị, 4 món ăn chính, món thứ 9 là bánh tráng miệng.  Bốn món khai vị gồm súp, gỏi, nem chua, tôm chiên.  Bốn món chính là Thảo, Thú, Cầm, Ngư: Thảo là rau cải xào nấm đông cô, bào ngư, dầu hào; Thú là món có thịt bò hay heo; Cầm là chim bồ câu quay hay là gà; Ngư là món cá, cua, sò, ốc. 

 Bà Liêm xem qua bảng rồi giải thích đây là thực đơn tâm linh nói đến 9 mỹ đức của Trái Thánh Linh, ghi trong thư Galati của Kinh Thánh.  Chín mỹ đức này người Tin Lành rất quý và thường để ý tập tành.  Thứ nhất và cũng quan trọng nhất là Yêu thương.  Tình yêu thương là chất keo nối liền người này với người khác.  Tình yêu thương xóa hết hận thù.  Tình yêu xóa bỏ mọi ranh giới, rào cản vì đưa con người đến sự thông cảm nhau. Tình yêu là sức sống, là nghị lực, là ánh sáng của trần gian. Theo Kinh Thánh, Thiên Chúa là tình yêu vô điều kiện, rất bao la, rất vĩ đại.  Tình yêu thương là mỹ đức dẫn đầu, từ đó phát sinh các mỹ đức tiếp theo. 

Bà Liêm nói tới đó thì ông Tùng mang dĩa bánh pía và bình trà vô mời.  Bà Liêm ngỏ lời cám ơn rồi hỏi ông: “Xin lỗi, ông anh là người Tin Lành?” Ông Tùng gật đầu cười, hỏi lại sao bà biết?  Bà Liêm: “Có 3 điểm, thứ nhất là tôi không thấy tượng ông Địa, hay Thần Tài trong nhà hàng này; thứ hai, quan sát cách ông tiếp khách, cách ông xử thế, làm tôi nhớ tới câu gốc trong Cô-lô-se chương 3: ‘Hễ làm việc gì, hãy hết lòng mà làm, như làm cho Chúa, chớ không phải làm cho người ta’; thứ ba, là bảng thực đơn tâm linh về 9 mỹ đức của Trái Thánh Linh này.” 

Ông Tùng cho biết các vị cao niên trong Hội thánh ông đang sinh hoạt thường tới họp trong phòng này từ 3 đến 4 giờ chiều.  Các ông bà chia sẻ niềm tin cho nhau, cầu nguyện và đố Kinh Thánh với nhau.  Nhiều người lớn tuổi, cô đơn, con cái ở xa, có người lại mất vợ, mất chồng nữa.  Họ có giờ nhóm họp, sinh hoạt, thông công, nâng đỡ đức tin cho nhau thật là quí báu.  Ông mời bà Liêm tới dự nhóm này cho vui.  

Nghĩa tỏ ý thán phục, hâm mộ tinh thần phục vụ người khác của ông Tùng và bà Liêm.  Ông Tùng nói chính Nghĩa cũng có tinh thần đó khi cho bạn mượn tiền mua laptop để học.  Ông nói cả ba ta đều làm việc nghĩa.  Bà Liêm hỏi ông Tùng có nhớ tên người là thủ hạ của Mạnh Thường Quân, đi chợ mua điều NGHĨA cho chủ không? Ông nói đó là Phùng Huyên, và ông kể cho Nghĩa và Tiến nghe chuyện về nhân vật này.   

Ðời chiến quốc, Phùng Huyên làm thực khách cho Mạnh Thường Quân (MTQ) là tướng quốc nước Tề.  Một hôm MTQ nhờ Phùng Huyên qua đất Tiết để thu các mối nợ. Trước khi ra đi, Phùng Huyên hỏi: “Thu xong nợ rồi có cần mua thêm vật gì không?”. MTQ bảo: “Xem trong nhà còn thiếu vật gì thì cứ mua về”.

Phùng Huyên đến đất Tiết cho người mời tất cả những con nợ của chủ đến đông đủ, rồi truyền rằng: Mạnh Thường Quân ra lệnh xóa bỏ tất cả số nợ. Và để cho mọi người tin tưởng, Phùng Huyên đem đốt hết những văn khế.  Những người thiếu nợ và toàn dân đất Tiết rất vui mừng, tung hô vạn tuế.

Khi họ Phùng trở về, Mạnh tướng quân lấy làm lạ cho là đòi nợ gì mau chóng thế, mới hỏi: Thu nợ xong chưa, và được trả lời là thu xong cả rồi. Ðến khi được hỏi về việc mua đồ vật mang về, Phùng Huyên thưa: Khi đi tướng quân dặn bảo mua những vật gì trong nhà còn thiếu. Tôi trộm nghĩ: trong cung, tướng công chất chứa những đồ trân bảo, ngoài chuồng nuôi đầy chó ngựa. Vậy vật tướng công còn thiếu là điều nghĩa, nên tôi trộm lệnh mua điều nghĩa đem về.

Mạnh Thường Quân ngạc nhiên hỏi: “Mua điều nghĩa thế nào?”. Họ Phùng đáp: “Tôi trộm lệnh tha cho tất cả các con nợ, nhân đó thiêu hủy các văn khế, được dân vui mừng tung hô, ấy là vì tướng công mua được điều nghĩa vậy”.  MTQ nghe vậy, không nói gì.

Một năm sau, vua Tề không dùng Mạnh làm tướng quốc nữa, nên ông phải lui về đất Tiết ở. Bấy giờ bá tánh đất Tiết, trai gái bé già tranh nhau ra đón rước giữa đường, hoan hô nhiệt liệt. Khi ấy Mạnh Thường Quân quay lại Phùng Huyên mà bảo: “Tiên sinh vì tôi mà mua điều nghĩa, ngày nay tôi mới trông thấy”.

Bà Liêm thêm ý: “Trong Luca chương 16, có ghi lời Chúa Giê-su dạy môn đồ hãy dùng của phù vân để kết nghĩa.”  Ông Tùng thêm: “Học cách tận dụng của cải vật chất đời này một cách hữu ích cũng quan trọng lắm.”

 

(Còn tiếp)

 

Thứ Năm, 16 tháng 12, 2021

Câu Chuyện Đổi Đời (Phần 3)

 Câu Chuyện Đổi Đời (Phần 3)

 Ngày thứ nhì của tuần thứ hai, Nghĩa đề nghị trở lại quán ông Tùng để ăn trưa.  Nghĩa nói vì ông vui tính.  Bà Liêm đồng ý, nói quán này sạch, nhiều món ăn ngon, chủ quán ân cần, chu đáo và hào sảng.  Ông có vẻ là người học rộng, hiểu nhiều.  Quán có internet miễn phí nữa, hôm qua bà dùng điện thoại thông minh lúc ăn trưa trong quán mới biết. 

Bà nhắc câu chuyện hôm qua khi bà cắt cái bánh pía ra làm 4, so sánh với cuộc đời lấy trăm năm là hạn, 4 phần ví với 4 mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông của đời người.  Từ 1-25 tuổi là mùa Xuân; 26-50 là mùa Hạ; 51-75 là mùa Thu; trên 75 tới ngày lìa đời là mùa Đông. Bà Liêm, ông Tùng vào tuổi cuối Thu, thời gian này nếu còn sức khỏe, còn đi đứng, nói năng, ăn uống được là có phước.  Họ đã thu thập một vốn kiến thức, kinh nghiệm, sự khôn ngoan từ mấy thập niên qua nên có thể truyền thụ lại cho thế hệ sau. Như người ta hay chiêm ngưỡng cảnh lá cây đổi màu vàng rực rỡ vào cuối Thu, thì tuổi 65-75 phải là tuổi đẹp nhất của đời người.  Tóc tuy hoa râm hay bạc trắng, thân thể có già đi, có mệt mỏi, đau nhức, nhưng trí óc còn sáng suốt, tinh thần còn vững chãi, tâm linh còn tấn tới thì đó không phải là món đồ cũ sắp vứt mà là món đồ cổ quý giá đáng trân trọng, bảo tồn.  Câu nói của ông Phao-lô trong thư gởi cho Hội thánh Corinth diễn tả ý đó: “dầu người bề ngoài hư nát, nhưng người bề trong cứ đổi mới càng ngày càng hơn” (2 Cô-rinh-tô 4:16).

Bà Liêm xin lỗi Nghĩa là bỗng nhiên lại lan man về tuổi già khi đang trà đàm với người trẻ.  Bà nhắc lại người tuổi trẻ như Nghĩa nên tìm ý nghĩa cuộc đời cho mình.  Bà kể chuyện về ông Viktor Frankl, một bác sĩ người Áo gốc Do Thái (được đăng trên Nếp Sống Mới Thu 2015).  Ông sinh năm 1905, mất năm 1997 tại Vienna, Áo.  BS Viktor Frankl chuyên về thần kinh và tâm thần (neurologist and psychiatrist) trị bệnh cho người bị tâm thần, cùng những người trầm cảm có ý định tự tử.  Ông khai sáng một phương pháp trị liệu cho người tuyệt vọng, gọi là Logotherapy, có thể dịch ra tiếng Việt là Ý Nghĩa Trị Liệu.  Ông nhận thấy những người thất vọng, tuyệt vọng nếu họ bám được một chút hi vọng nào đó thì họ ít tìm đến cái chết.  Ý Nghĩa Trị Liệu giúp bệnh nhân tìm ra ý nghĩa cuộc sống giúp họ có thể phấn đấu tiếp để… sống.  Ông đồng ý với Friedrich Nietzsche:  “He who has a why to live for can bear with almost any how”  (Ai biết lý do mình sống sẽ chịu đựng được mọi hoàn cảnh dù khó khăn thế nào đi nữa.)

Năm 1942, cùng với cha mẹ và vợ chồng người anh trai, vợ chồng ông bị bắt vào trại tập trung của Đức Quốc Xã tại Bohemia, Tiệp Khắc, sau đó họ đưa ông vào 3 trại khác.  Như những tù nhân khác, ông bị đối xử rất tàn tệ.  Nhiều người thấy cái chết trước mắt là sẽ bị lùa vào lò hơi ngạt nên họ buông xuôi, mất sức phấn đấu.  Những người này chết trước khi bị giết.  Lúc đó, BS Viktor Frankl thấy ông có 3 lý do để sống là 1gặp lại vợ, 2viết lại luận án Logotherapy, mang tên tiếng Anh là “The Doctor and The Soul” (vì bản thảo của ông bị tịch thu), và 3dùng Ý Nghĩa Trị Liệu giúp cho các bạn đồng tù.  Chỉ cần hỏi những người bạn này về gia đình của họ là bao kỷ niệm ập về, là họ tìm được niềm tin yêu và hi vọng để sống.  Ông may mắn được đồng minh cứu thoát vào tháng 3 năm 1945 trong khi cha mẹ, anh chị và vợ đã chết hoặc vì kiệt sức, đói khát hay trong lò hơi ngạt.

Năm 1946, ông viết một tác phẩm bằng tiếng Đức,  dịch ra tiếng Anh là “Man’s Search for Meaning”, được dịch ra nhiều thứ tiếng.  Sau đó ông viết thêm nhiều sách khác để quảng bá Logotherapy.  Tư tưởng tích cực, lạc quan, tìm ý nghĩa cuộc sống của chính mình đã giúp nhiều người tìm lại được sức mạnh tinh thần để sống tiếp.  Nhiều người đọc tác phẩm của ông mà thay đổi cái nhìn, thay đổi cách suy nghĩ, thay đổi cuộc đời.  Họ đã tâm sự:

-  Tôi mất chồng 2 năm rồi mà vẫn còn thấy hụt hẫng, hay trách chồng sao bỏ mình đi quá sớm.  Sau khi đọc Logotherapy, tôi nghĩ nếu hoàn cảnh đổi khác, tôi mất trước chồng, thì thật tệ hại cho ông vì ông không thể vô bếp nấu ăn.  Ông không kiên nhẫn với trẻ con nên không giúp gì cho các cháu.  Bây giờ, tôi thấy sự chết trễ của mình có ý nghĩa là hy sinh cho chồng và cho con cháu.  Tôi thấy được lý sống và lẽ sống.  Lý sống là săn sóc các cháu tôi, lẽ sống là niềm an ủi cho người khác.  Với những người tôi tiếp xúc, tôi truyền sứ điệp tin yêu và hi vọng. 

- Tôi nay đã về hưu.  Tôi có thú tiêu khiển xử dụng internet, tôi khuyến khích, giúp đỡ cho các cụ biết cách dùng laptop, tablet, điện thoại thông minh

- Tuy bị stroke, không dùng được tay phải, tôi kiên nhẫn tập dùng tay trái.  Tôi vẫn theo đuổi thú vui của mình trong việc nấu ăn, làm bánh.  Quả thật, một tay với thái độ đúng vẫn hơn người còn đủ 2 tay với thái độ sai. 

-  Điều tôi học được từ BS Frankl là: “Những gì chúng ta thấy, nghe, ngửi, những kinh nghiệm chúng ta trải qua dù đau khổ hay vui sướng đều có thể tạo thành tài sản quí báu (asset) cho tương lai chúng ta.”  Ý nghĩa cuộc đời của ông là giúp cho người khác tìm thấy ý nghĩa cuộc đời của chính họ.  Tôi đồng ý với ông.

-  Tôi thích thú săn sóc vườn rau cây thuốc mỗi ngày.  Vườn rau cho tôi cơ hội vận động cơ thể và đồng thời cung cấp cho tôi rau quả dinh dưỡng trong bữa ăn. 

- Trong tác phẩm: “Man’s Search for Ultimate Meaning”, BS Viktor Frankl quan niệm ai tìm được lý tưởng về phương diện tâm linh là cao quí nhất.  Con người có 3 phần: thể chất, trí tuệ, tâm linh.  Thường những người trải qua đau khổ, bị bầm giập (bầm bên ngoài, giập bên trong) mới dễ có suy nghĩ về tâm linh.  BS VF giúp tôi hiểu được ông Phao-lô khi “coi mọi sự như sự lỗ, vì sự nhận biết Đức Chúa Jêsus Christ là quí hơn hết”.  Ông Phao-lô sẵn sàng chịu đựng bao nhiêu khổ nạn, đến nổi xem thường cái chết, chỉ vì ông có lý tưởng là rao truyền danh Chúa. 

Nghĩa trầm ngâm rồi tâm sự rằng cậu yêu thích nghề giáo vì muốn truyền kiến thức cũng như kinh nghiệm đời sống cho các em học sinh. Bà Liêm nói cậu có thể tìm ý nghĩa cuộc đời mình qua việc phục vụ, phụng sự.  Muốn phục vụ hữu hiệu, Nghĩa nên có thì giờ trau dồi Anh ngữ vì đó là ngôn ngữ quốc tế hiện nay.  Sách vở viết bằng Anh ngữ rất nhiều, giá bán không quá mắc.  Điều thứ hai, Nghĩa cần học khả năng sử dụng máy vi-tính, sử dụng internet, đó là cửa ngỏ mở đường kiến thức. 

(Còn tiếp)